16.9.18

qua hà-giang



Đi ngang vùng Hà Giang, thấy những con ngựa gặm cỏ ven đường, thấy những người Mèo luôn có chiếc dao gài sau thắt lưng, chợt nhớ chuyện đường rừng võ hiệp của Hoàng Ly (*). Những câu chuyện của ông kể về một thời núi rừng xứ Bắc còn mịt mùng hoang sơ, đường đi trắc trở; về những bậc anh hùng cái thế hùng cứ mỗi phương, võ nghệ cao cường, cỡi ngựa như bay trên những dốc đèo, bắn súng pạc-hoọc trăm phát như một, múa gươm đao như hoa thu loạn bay; về những mối tình đẹp như thơ bên bờ suối khe, bên nương thuốc phiện hoa đỏ rực, bên rẫy ngô xanh mướt...

Đó là thời những vua Mèo, những thổ ty, xa cách triều đình, trở thành chúa một cõi. Các vương triều Việt Nam và người Pháp đều tìm cách thu phục họ và qua tay họ giữ gìn yên ổn cho một vùng biên cương xa xăm. Nguyễn Công Trứ từng đưa quân lên đánh đẹp những mầm mống phản loạn của vùng này.

Đến năm 1945, trong lúc tranh tối tranh sáng, mảnh đất Hà Giang nhỏ bé trở thành nơi tập trung của nhiều lực lượng vũ trang: (1) quân Tưởng Giới Thạch, (2) quân Quốc Dân Đảng VN, (3) quân người Mèo của Vàng Chí Sinh, (4) quân của thổ ty Nguyễn Châu, (5) quân của Việt Cách... Việt Minh, lấy danh nghĩa là quân đội của Chính phủ trung ương, do tướng Song Hào chỉ huy, dẫn quân lên để giải phóng vùng này. Những cuộc tiếp xúc, thương lượng khi cứng rắn, khi mềm dẻo, khi đánh nhau, khi đàm phán... đầy tình tiết gay cấn như trong tam-quốc-chí tranh hùng.

Cũng vậy, cùng thời điểm, ở Nam Bộ có nhiều lực lượng vũ trang của các phe phái chung mục đích chống thực dân Pháp: (1) quân Bình Xuyên, (2) Giải phóng quân liên quận, (3) quân Hòa Hảo, (4) quân Cao Đài, (5) quân Huỳnh Văn Nghệ... Chính phủ phải phái tướng Nguyễn Bình vào để tổ chức Hội nghị quân sự, thống nhất chỉ huy với tên chung là "Giải phóng quân Nam Bộ". Nguyễn Bình là vị tướng văn võ kiêm toàn, với mưu trí của con nhà võ, tính anh hùng mã thượng của giới giang hồ, vốn trí thức đầy đặn của con nhà văn, trong vòng 3 năm, ông đã thu phục những người đứng đầu các lực lượng vũ trang về một mối.

Quả là một thời ngang dọc.

*
Tất cả rồi cũng qua đi, như khi đứng trước dinh vua Mèo họ Vàng ở Sà Phìn, trên ngọn đồi Kim Quy mà thầy phong thủy phán là con cháu của ông sẽ hưởng lộc muôn đời, thấy thời gian đè nặng trĩu mái ngói rêu phong. Chỉ những cây sa-mộc đã trăm năm tuổi vẫn còn đứng đó, sẵn sàng làm chứng nhân cho những biến thiên dời đổi.
__________
(*) Nhà văn Hoàng Ly (1915 - 1981), tác phẩm: Một thời ngang dọc, Nữ tướng miền sơn cước, Thập vạn đại sơn vương...
»»  read more

15.9.18

một vòng núi rừng phương Bắc



Tôi vừa được đi một vòng 8 tỉnh: Hà Nội Thái Nguyên Bắc Kạn Cao Bằng Hà Giang Tuyên Quang Yên Bái Phú Thọ; theo phân chia địa lý chính thức, đây là vùng Đông Bắc; trong đó 6 tỉnh (Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái) còn gọi là Việt Bắc, chiến khu chống Pháp chín năm; khu vực núi rừng hiểm trở bậc nhất Việt Nam. Ở đây, có cao nguyên đá tai mèo Đồng Văn (Hà Giang) ở độ cao 1600m được UNESCO công nhận là "công viên địa chất toàn cầu".

1. Là dân miền Trung, đèo núi với tôi vốn không lạ. Từng qua lại nhiều lần hai con đèo nổi tiếng Hải Vân (với danh xưng Đệ nhất hùng quan) và Ngoạn Mục, nhưng khi chạm mặt với những đường đèo xứ Bắc mới thực sự cảm xúc câu thơ: "ngàn thước lên cao ngàn thước xuống"... Những con đường đèo bé nhỏ như sợi chỉ vắt vẻo ngang lưng chừng những dãy núi đá vôi, một bên vực sâu thăm thẳm, một bên núi dựng mịt mùng; với những đoạn cua khúc khuỷu, quặt quẹo cả người.

Đoạn đường 1400km, chúng tôi đi không biết bao nhiêu con đèo: Gió, Cao Bắc, Tài Sìn Hồ, Mã Phục, Mã Pí Lèng, Thẩm Mã, Si Phai, Yên Minh, Chín Khoanh, Khau Phạ... mỗi cung đèo là một cảm giác mạnh, có khi lạnh cả sống lưng.

2. Vùng đất tuyệt đẹp và độc đáo này hấp dẫn du khách Tây ba-lô khá sớm. Chính họ là những người đầu tiên chịu khó leo đèo vượt núi lặn lội mò mẫm vào vùng này từ khi còn hoang sơ, khám phá và quảng bá nó ra toàn thế giới. Nhờ họ mà chúng ta giờ này được đi trên những cung đường được mở rộng, trải nhựa phẳng phiu. Nhờ họ mà chúng ta được chiêm ngưỡng những cánh ruộng bậc thang đẹp ngất ngây, những vùng đá tai mèo lởm chởm đá trong rẫy ngô, những núi sông hùng vĩ chớn chở, những chợ phiên vui như ngày tết rực rỡ sắc màu vùng cao. Nhờ họ mà chúng ta có những chỗ lưu trú tươm tất ở những góc xa xôi hẻo lánh.

Có khi, nhờ người ngoài, chúng ta mới thấy vẻ đẹp của đất nước mình!

3. Chủ nhân vùng đất này là các dân tộc Mông, Dao, Giáy, Lô Lô... Đàn ông đánh bộ chàm đen, phụ nữ áo váy khăn mũ sặc sỡ nhiều màu sắc thổ cẩm, vòng tay vòng cổ hoa tai bằng bạc... Người Mông (còn gọi là người Mèo) là dân tộc đặc biệt, họ lập nhà rải rác ở nơi núi cao chót vót, gieo trong đá tai mèo từng vốc ngô mầm rau. Trên những sườn núi với độ dốc chóng mặt, cuộc sống của họ vẫn an nhiên tự tại qua ngàn đời giữa thiên nhiên hoang dã.

Chủ Nhật, nhằm phiên chợ Đồng Văn, Mèo Vạc, họ lọ mọ xuống núi từ chiều hôm trước, lầm lũi băng màn đêm để sớm mai đến chợ. Đàn ông xúm quanh nồi thắng-cố và bát rượu ngô, đàn bà lúi húi bán mua đổi chác để có những vật dụng cần thiết, lũ thiếu nữ trẻ con hớn hở xúng xính váy áo như trong những ngày Tết.

Đi trên đường, ngày ngày, vẫn thấy những người đàn bà Mông, dao rừng dắt lưng, cõng chiếc gùi đầy những thổ sản của rừng, cắm cúi với những con đèo dốc.

4. Cô chủ nhà nghỉ xinh xắn ở Đồng Văn, mời tôi quả táo. Thấy cô ấy ăn táo cả vỏ, tôi hỏi: 'Phải táo Tàu không?' 'Táo Tàu bác ạ!' 'Cô ăn cả vỏ không sợ thuốc à?' Cô ấy phá ra cười: 'Em vẫn ăn hàng ngày đấy. Bác ơi, người Tàu chả phun cái gì vào táo đâu! Chỉ có người Việt mới hại người Việt mà thôi!'

Người đẹp nói thường rất đáng tin. Tôi cắn nguyên quả táo ăn một cách ngon lành. Như ăn quả táo Mỹ ngày xưa!





»»  read more

28.8.18

ẩm giả lưu kỳ danh



Hắn vô bàn là kệ mẹ nó, không cần biết chủ xị là ai, có mời là tao uống, uống rất chăm chỉ, hễ sót tua nào là "kiện tụng" ngay.

Hắn chẳng màng chi tới chiện tính tiền, đóng góp cho bàn nhậu. Đã mời tao thì đương nhiên tao là khách VIP, ai trả cứ trả, ai góp cứ góp, tao khỏi móc bóp. (Hihi, mà nói thiệt, hắn có bóp đâu mà móc.)

Hắn chẳng cần góp chuyện chi với ai, cứ tì tì uống, tì tì nghe, tì tì lấp lánh đôi mắt khôn không chịu được dấu sau đôi mục kỉnh dày cui.

Lúc nào ngứa ngáy tột đỉnh chịu không nổi, hắn mới nhẹ hều buông ra một câu, sắc ngọt như dao lá lúa đâm vô mạng mỡ bạn bè.

Cỡ đó, rứa mà ai cũng thích cũng thương, hễ có độ nhậu là phải thỉnh hắn tới. Mà thỉnh hắn cũng đâu có dễ, phải lo chở hắn đi chở hắn về, hoặc phải lo xe ôm taxi, đưa đón cẩn thận.

*

Giờ hắn giũ bụi trần gian rồi.

Hắn đi, dường như lại mang đi luôn cái phong vị nhậu nhẹt bạt mạng, hồn nhiên như nhiên, không cần đối đãi, không lo dè chừng... ra khỏi những cuộc nhậu của bạn bè.

Để những "ẩm giả" còn lại, có đôi khi, đang rót bia mà lòng sao cứ ngơ ngác ngác ngơ.

28-8-2015
Để tưởng nhớ Phù Du Vĩnh Hiền
»»  read more

giấc mơ hải đăng

Tôi thích ngọn hải đăng, từ bé.

Đứng trên mỏm một mũi gành đá, dưới chân sóng biển tung trắng, đêm đêm phóng những luồng ánh sáng đi thật xa, trong mịt mùng, để giúp những con tàu vượt phong ba, hải đăng là hình ảnh người dẫn đường, lẫm liệt, kiên cường trước mọi thử thách.

Những tấm ảnh hải đăng, với chiếc tháp đèn sơn màu trắng, với dãy nhà trạm xinh xắn như những căn nhà điền dã, với hàng rào gỗ sơn trắng, với thảm cỏ xanh biếc vậy quanh, lại gây một cảm giác ấm áp và thanh bình.



Khi bé, tôi được kể hay đọc đâu đó câu chuyện về ngọn hải đăng, là đích đến không thành cho một chuyến thám du, của một nhóm người nhiều thế hệ. Trải qua mười năm, đi qua cuộc chiến tranh thế giới, những người bạn năm xưa lại tề tựu cùng nhau, kẻ mất người còn, quyết định làm lại ước mơ thăm ngọn hải đăng cũ. Trong truyện, ngọn hải đăng như một chứng nhân vượt thời gian cho niềm hi vọng không tắt của những nhân vật với nhiều mối quan hệ, cha con - bạn bè - anh em, với tình cảm sắt son không phai mờ giữa họ!

Thành ra, mong muốn đến với ngọn hải đăng, leo lên đỉnh đứng bên bao lơn thả tầm mắt ra thật xa ngoài đại dương, được ngủ một đêm cùng với những người giữ trạm, ngắm luồng ánh sáng mạnh mẽ vừa xoay tròn vừa phóng hai hình chữ V rực rỡ vào đêm tối; lang thang quanh trên gành đá với những bụi cỏ dài, với những thân cây như mang gió trong dáng hình cằn cỗi luôn là một ám ảnh thường trực, dài lâu mấy mươi năm.

Mỗi lần có dịp đi qua những con đường ven biển, biết hoặc thấy ở nơi kia, có một ngọn hải đăng rất gần, lòng vẫn xao động bồi hồi và niềm ước ao cũ lại dấy lên, như chiếc dằm trong da thịt.

Hôm kia, cùng vài người bạn, chúng tôi mò mẫm leo lên ngọn Mũi Điện, đoạn đường dốc hơn 1km, lên độ cao 100m, trong lúc sụp tối; ngắm vầng trăng rằm mờ mịt trong mây trước khoảng sân nhà trạm; ngủ một đêm trong không khí lặng phắc không một ngọn gió, nóng đến mức trằn trọc; thức dậy sớm lang thang trên gành đá lô xô đẹp tuyệt vời rồi leo lên đỉnh hải đăng nhìn mặt trời mọc lên từ biển, tỏa tia nắng đầu ngày ở điểm cực Đông trên đất liền.

Những giây phút sẽ chẳng bao giờ quên!
_________
Ảnh: từ internet và của anh Võ Thành Lân, bạn đồng hành chuyên đi Mũi Điện.















»»  read more

22.8.18

sách giáo khoa


Nhớ lại vài cuốn sách giáo khoa (SGK) thời đi học của tôi ở miền Nam (VNCH).
1. Thời trường xóm, trước khi vào Tiểu học. Quanh khu Chính Trạch (Đà Nẵng) con nít đều học vỡ lòng trường Thầy Nhuận.

SGK từ thời... Đông Pháp, với những câu dễ nhớ và nhớ mãi đến bây giờ: "Ngày nghỉ hè/ Ta về quê/ Nhà ta ở/ Mé bờ đê...", "Thằng Tô nghịch láo/Buộc pháo đuôi dê/ Dê nhảy tứ bề...", "Anh là Đào/ Tóc húi cao/ Da hồng hào/ Dáng khỏe mạnh..."

Ngôn ngữ theo giọng Bắc, hình minh họa cũng cảnh vật ngoài Bắc, tôi được làm quen với cái váy sồi, khăn mỏ quạ, gió bấc, mưa phùn, đường đê, nhà mái rạ, quả na, cá quả, bắp ngô v.v... từ cuốn SGK này.

2. Năm năm Tiểu học nằm trong diện cưỡng-bách của nhà nước, nên SGK đương nhiên cũng bị cưỡng-bách bỏ vào cặp sách của học trò. Tôi không nhớ hàng năm, mọi học sinh có được phát SGK mới hay không, nhưng cũng có khá nhiều cuốn SGK anh truyền em nối trong nhà tôi. Có thể là do sự tự giác (nhà mình có, thì không đòi hỏi trường phải phát thêm).

Một số cuốn Việt-Văn, Toán do tư nhân biên soạn cũng bổ sung vào cặp sách chúng tôi.

Tôi thích cuốn Thủ-Công, dạy gấp giấy đầu lân, làm lồng đèn, khâu giấy làm số tay... Những năm cuối Tiểu Học, xuất hiện những cuốn SGK do Trung tâm Học liệu (nhà nước) phát hành nhờ có viện trợ của nước ngoài, sách in đẹp, bìa cứng giấy trắng, hình minh họa nhiều màu. Qua cuốn Địa Lý, tôi lại được tiếp xúc với những từ-ngữ của miền Nam Bộ sông nước: bưng biền, kinh xáng, gành xẻo, nước rặc nước lừng, bần đước, cóc-kèn ô-rô...

3. Lên Trung học, hết "bao cấp", SGK phải mua. Bộ GD VNCH phải tập trung thực hiện chính sách cưỡng bách giáo dục cho bậc Tiểu học, nên "giao cho" tư nhân đảm trách SGK cho bậc Trung học. Thôi thì trăm hoa đua nở.

Đáng nhớ là 2 bộ SGK về sinh ngữ "độc quyền" và đeo đẳng đám học trò suốt những năm Trung học:

a/ Sáu cuốn English For Today dùng kèm Anh Ngữ Thực Dụng (do Lê Bá Kông biên dịch).

b/ Ngoài cuốn Le Français Élémentaire cho lớp 6, là bốn cuốn Cour de Langue et de Civilisation Française dùng kèm Ngôn Ngữ và Văn Minh Pháp (do Ban tu thư Tuấn Tú biên dịch).



4. Tuổi này, đôi khi nằm mơ, thấy mình còn lọ mọ đi học. Quái ác thay, những giấc mơ đi học luôn là những cơn ác mộng hãi hùng, nào là học dốt, thi rớt... Mà khi đó, trong tay chỉ là cuốn tập vở ghi chép sơ sài, bài có bài không, tiệt nhiên, không thấy cuốn sách giáo khoa nào hết!

Giật mình thức dậy, mới thở phào nhẹ nhõm, khi biết thời đó qua rồi!
»»  read more