Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngày xưa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngày xưa. Hiển thị tất cả bài đăng

27.9.18

tặng vật


1.
Món quà trở thành một tặng vật khi làm người ta nhớ mãi!
Hai món quà tôi được tặng từ hai người chị (chị và "chị") là hai cuốn truyện. Những tặng vật đó, dẫu ở những thời điểm khác nhau, nhưng với tôi, chúng đều là những tặng vật đầu tiên.

2.
Năm lớp bảy, đá banh gãy chân, vô nhà thương nằm, chị vào thăm và mang cho tôi cuốn Chim Hót Trong Lồng của Nhật Tiến. Những chiếc lá bàng đỏ ối, những cành cây khô gầy mùa đông, những sương mù cô quạnh, những giọt mưa lạnh buốt, vòng hoa tang đỏ đơn chiếc dập dềnh theo vó ngựa chở cỗ quan tài ra nghĩa trang… những hình ảnh thê thiết và xa vợi của một Hà Nội cũ trong truyện luôn mãi ám ảnh tôi. Chị quý tôi lắm và khi tôi nằm viện, chị mượn vở bạn bè tôi để cặm cụi chép lại bài vở cho tôi, nhờ vậy dù mất mấy tháng không đến trường, tôi vẫn theo kịp chương trình học.
Về sau, mỗi khi chị em bất hòa, tôi luôn nhớ đến tặng vật của chị ngày xưa, để dễ dàng xóa tan tất cả mọi điều hờn giận, trách móc, để giữ gìn tình của chị và tôi vẫn trong trẻo và đầy thương yêu như thuở nào.

3.
Năm lớp mười, trong nỗi xao xuyến của tuổi tôi mười sáu, "chị" tặng món quà đầu tiên: cuốn Ví Dụ Ta Yêu Nhau của Nguyễn Thanh Trịnh. Khi giở lớp giấy hoa bọc món quà, đọc nhan đề của cuốn truyện, tôi nhói cả tim. Một cảm xúc lạ lùng mới mẻ hạnh phúc vỡ òa xâm chiếm lấy tôi. Tôi đang thương "chị" và tôi biết "chị" cũng rất thương tôi. Cái thương đang mong manh, mơ hồ muốn biến thành tình yêu. Cái thương đang mấp máy trên đôi môi này chờ đôi môi kia hé lộ: ví dụ ta yêu nhau?
Nhưng rồi, điều ví dụ đó mãi mãi trở thành ví dụ. Những biến động của năm bảy lăm, đẩy tôi và "chị" xa nhau, rồi xa nhau biền biệt. Những lần hiếm hoi tôi về lại quê, gặp "chị" những giây phút ngắn ngủi. Đã hơn bốn mươi năm rồi, mọi sự đã qua, mọi điều đã thay đổi, nhưng mỗi lần nhìn vào ánh mắt của "chị", tôi vẫn nhớ hoài cái cảm xúc tuyệt vời khi đọc dòng chữ: Ví Dụ Ta Yêu Nhau!

4.
Những khoảnh khắc có được một tặng vật đầy tình yêu thương là những khoảnh khắc hạnh phúc đi theo mình mãi mãi!
»»  read more

28.8.18

giấc mơ hải đăng

Tôi thích ngọn hải đăng, từ bé.

Đứng trên mỏm một mũi gành đá, dưới chân sóng biển tung trắng, đêm đêm phóng những luồng ánh sáng đi thật xa, trong mịt mùng, để giúp những con tàu vượt phong ba, hải đăng là hình ảnh người dẫn đường, lẫm liệt, kiên cường trước mọi thử thách.

Những tấm ảnh hải đăng, với chiếc tháp đèn sơn màu trắng, với dãy nhà trạm xinh xắn như những căn nhà điền dã, với hàng rào gỗ sơn trắng, với thảm cỏ xanh biếc vậy quanh, lại gây một cảm giác ấm áp và thanh bình.



Khi bé, tôi được kể hay đọc đâu đó câu chuyện về ngọn hải đăng, là đích đến không thành cho một chuyến thám du, của một nhóm người nhiều thế hệ. Trải qua mười năm, đi qua cuộc chiến tranh thế giới, những người bạn năm xưa lại tề tựu cùng nhau, kẻ mất người còn, quyết định làm lại ước mơ thăm ngọn hải đăng cũ. Trong truyện, ngọn hải đăng như một chứng nhân vượt thời gian cho niềm hi vọng không tắt của những nhân vật với nhiều mối quan hệ, cha con - bạn bè - anh em, với tình cảm sắt son không phai mờ giữa họ!

Thành ra, mong muốn đến với ngọn hải đăng, leo lên đỉnh đứng bên bao lơn thả tầm mắt ra thật xa ngoài đại dương, được ngủ một đêm cùng với những người giữ trạm, ngắm luồng ánh sáng mạnh mẽ vừa xoay tròn vừa phóng hai hình chữ V rực rỡ vào đêm tối; lang thang quanh trên gành đá với những bụi cỏ dài, với những thân cây như mang gió trong dáng hình cằn cỗi luôn là một ám ảnh thường trực, dài lâu mấy mươi năm.

Mỗi lần có dịp đi qua những con đường ven biển, biết hoặc thấy ở nơi kia, có một ngọn hải đăng rất gần, lòng vẫn xao động bồi hồi và niềm ước ao cũ lại dấy lên, như chiếc dằm trong da thịt.

Hôm kia, cùng vài người bạn, chúng tôi mò mẫm leo lên ngọn Mũi Điện, đoạn đường dốc hơn 1km, lên độ cao 100m, trong lúc sụp tối; ngắm vầng trăng rằm mờ mịt trong mây trước khoảng sân nhà trạm; ngủ một đêm trong không khí lặng phắc không một ngọn gió, nóng đến mức trằn trọc; thức dậy sớm lang thang trên gành đá lô xô đẹp tuyệt vời rồi leo lên đỉnh hải đăng nhìn mặt trời mọc lên từ biển, tỏa tia nắng đầu ngày ở điểm cực Đông trên đất liền.

Những giây phút sẽ chẳng bao giờ quên!
_________
Ảnh: từ internet và của anh Võ Thành Lân, bạn đồng hành chuyên đi Mũi Điện.















»»  read more

22.8.18

sách giáo khoa


Nhớ lại vài cuốn sách giáo khoa (SGK) thời đi học của tôi ở miền Nam (VNCH).
1. Thời trường xóm, trước khi vào Tiểu học. Quanh khu Chính Trạch (Đà Nẵng) con nít đều học vỡ lòng trường Thầy Nhuận.

SGK từ thời... Đông Pháp, với những câu dễ nhớ và nhớ mãi đến bây giờ: "Ngày nghỉ hè/ Ta về quê/ Nhà ta ở/ Mé bờ đê...", "Thằng Tô nghịch láo/Buộc pháo đuôi dê/ Dê nhảy tứ bề...", "Anh là Đào/ Tóc húi cao/ Da hồng hào/ Dáng khỏe mạnh..."

Ngôn ngữ theo giọng Bắc, hình minh họa cũng cảnh vật ngoài Bắc, tôi được làm quen với cái váy sồi, khăn mỏ quạ, gió bấc, mưa phùn, đường đê, nhà mái rạ, quả na, cá quả, bắp ngô v.v... từ cuốn SGK này.

2. Năm năm Tiểu học nằm trong diện cưỡng-bách của nhà nước, nên SGK đương nhiên cũng bị cưỡng-bách bỏ vào cặp sách của học trò. Tôi không nhớ hàng năm, mọi học sinh có được phát SGK mới hay không, nhưng cũng có khá nhiều cuốn SGK anh truyền em nối trong nhà tôi. Có thể là do sự tự giác (nhà mình có, thì không đòi hỏi trường phải phát thêm).

Một số cuốn Việt-Văn, Toán do tư nhân biên soạn cũng bổ sung vào cặp sách chúng tôi.

Tôi thích cuốn Thủ-Công, dạy gấp giấy đầu lân, làm lồng đèn, khâu giấy làm số tay... Những năm cuối Tiểu Học, xuất hiện những cuốn SGK do Trung tâm Học liệu (nhà nước) phát hành nhờ có viện trợ của nước ngoài, sách in đẹp, bìa cứng giấy trắng, hình minh họa nhiều màu. Qua cuốn Địa Lý, tôi lại được tiếp xúc với những từ-ngữ của miền Nam Bộ sông nước: bưng biền, kinh xáng, gành xẻo, nước rặc nước lừng, bần đước, cóc-kèn ô-rô...

3. Lên Trung học, hết "bao cấp", SGK phải mua. Bộ GD VNCH phải tập trung thực hiện chính sách cưỡng bách giáo dục cho bậc Tiểu học, nên "giao cho" tư nhân đảm trách SGK cho bậc Trung học. Thôi thì trăm hoa đua nở.

Đáng nhớ là 2 bộ SGK về sinh ngữ "độc quyền" và đeo đẳng đám học trò suốt những năm Trung học:

a/ Sáu cuốn English For Today dùng kèm Anh Ngữ Thực Dụng (do Lê Bá Kông biên dịch).

b/ Ngoài cuốn Le Français Élémentaire cho lớp 6, là bốn cuốn Cour de Langue et de Civilisation Française dùng kèm Ngôn Ngữ và Văn Minh Pháp (do Ban tu thư Tuấn Tú biên dịch).



4. Tuổi này, đôi khi nằm mơ, thấy mình còn lọ mọ đi học. Quái ác thay, những giấc mơ đi học luôn là những cơn ác mộng hãi hùng, nào là học dốt, thi rớt... Mà khi đó, trong tay chỉ là cuốn tập vở ghi chép sơ sài, bài có bài không, tiệt nhiên, không thấy cuốn sách giáo khoa nào hết!

Giật mình thức dậy, mới thở phào nhẹ nhõm, khi biết thời đó qua rồi!
»»  read more

6.8.18

ngày ấy


1. ĐỐI DIỆN

Nhớ hồi trung học, trong lớp, có thằng bạn bị anh em xầm xì sau lưng: "hắn là việt cộng đó mi!".

Hắn thường chuyển cho tôi đọc tạp chí Đối Diện, có khi nguyên cuốn, có khi chỉ vài tờ của một bài báo. Những dòng chữ, trong suy nghĩ của tôi, "sặc mùi cộng sản", rất đáng sợ. Sau này, biết thêm, tờ tạp chí có số phận truân chuyên lên bờ xuống ruộng qua cả 2 chế độ suốt mười năm (1969-1978)

Tạp chí Đối Diện (ở miền Nam Việt Nam) do linh mục Chân Tín làm chủ nhiệm, chủ trương lên án những bất công của xã hội, đòi cải thiện chế độ lao tù, chống sự hiện diện của người Mỹ, đòi hòa bình. Chỉ một năm sau, từ số báo 11 (1970) Đối Diện đã trở thành tờ báo bị chính quyền "khủng bố trắng": tịch thu báo, đưa chủ nhiệm ra tòa tuyên phạt tù 5 năm, đe dọa người đọc, gây khó dễ chuyện in ấn... Nó trở thành món hàng quốc cấm được lén lút chuyền tay nhau để đọc, người tàng trữ có thể bị rắc rối với chính quyền.

Ai dính dáng tới Đối Diện, có thể ngầm hiểu, người đó dính dáng tới Việt Cộng.

Để duy trì tờ báo, những người chủ trương chơi trò cút bắt với chính quyền. Đối Diện bị cấm; họ ra tờ báo mới mang tên ĐD; ĐD lại bị cấm, họ lại ra tiếp tờ Đồng Dao; Đồng Dao bị cấm, lại có tờ Đứng Dậy. Cứ 2 chữ Đ và D quần thảo nhau miết tới tháng 4/1975.

Sau 3 tháng chộn rộn, Đứng Dậy được tục bản số 70 ngày 04/7/1975, chủ nhiệm Chân Tín, tổng biên tập Nguyễn Ngọc Lan. Cùng với Tin Sáng, đây là 2 tờ báo miền Nam được tiếp tục xuất bản.

Và từ đó, vở bi hài kịch mở màn. Đứng Dậy lại tiếp tục sứ mệnh "chống bất công xã hội" nhưng lần này, trong chế độ cộng sản. Ngày trước, dù có bị "khủng bố", nhưng với chế độ dân chủ VNCH, các ông vẫn có thế lách luật để ra báo, chống Mỹ và chính quyền đến cùng. Còn bây giờ, với 44 số báo từ 1975-1978, nhà cầm quyền mới không chịu nổi những bài báo nói lên sự thật, tờ Đứng Dậy bị đình bản [vĩnh viễn] ở số 114 (12/1978).




Hai vị chủ sự là Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan, dù không đi tù, nhưng bị giam lỏng, người đi đày ở tuốt Cần Giờ, kẻ quản thúc tại gia.

2. NGỌC THỨ LANG

Thế hệ tôi và trên tôi, ở miền Nam, có đọc sách, ai cũng đã từng nghiền ngẫm cuốn Bố Già (The Godfather của Mario Puzo) được dịch bởi Ngọc Thứ Lang.

Hai chữ "Bố Già", tất nhiên, không phải do Ngọc Thứ Lang sáng tạo ra; nó là từ khá thông dụng để chỉ một ông già chịu chơi, có uy tín hoặc quyền lực. Thời đó ở Saigon, giới văn nghệ sĩ đã gọi ông Nguyễn Đình Vượng, chủ nhiệm tạp chí Văn là "Bố Già Vượng". Cái độc đáo của Ngọc Thứ Lang là đã dùng hai chữ này để đối dịch The Godfather (cùng những từ ngữ giang hồ, bặm trợn, có phần dung tục trong suốt bản dịch) đã lột tả thật trọn vẹn nguyên tác.

Về sau này, có hai bản dịch The Godfather, một của Đặng Phi Bằng, một của Trịnh Huy Ninh- Đoàn Tử Huyến. Cả hai đều lấy tên sách là Bố Già, như một tuyệt-ngữ, không-ai-thay-đổi-được. Chợt nghĩ, nếu Ngọc Thứ Lang đăng ký độc quyền cái nhan đề này, thì chắc chắn các vị đi sau cũng đành buông bút!

Ngọc Thứ Lang, lúc lên voi "ăn diện như một tay chơi thứ thiệt: áo sơ mi hàng nhập từ Paris sang chỉ có trong một cửa tiệm trên đường Tự Do, đồng hồ vuông mặt đen, mũ mossant, cặp da, hút thuốc lá Phillip Morris vàng loại King size, bật lửa Dupont, cơm Tây, rượu chát..." lúc xuống chó thì thành một "người đàn ông gầy ốm, mặt nhỏ choắt, mặc chiếc sơ mi màu cháo lòng, tay áo thả dài xuống lấp cả hai bàn tay..." (*) Năm 1976, do ghiền ma túy, ông bị đưa vào trại cải tạo và mất ở đó năm 1979, chưa đầy 50 tuổi, không vợ không con.

  

______
Thử tra tìm chân dung của ông, nhưng buồn thay, chỉ thấy ảnh Bố Già do Marlon Brando thủ vai trong bộ phim cùng tên. Bộ phim này nhập cảng vào Saigon đầu năm 1975, nhưng đã không kịp chiếu!
(*) Hai hình ảnh về Ngọc Thứ Lang từ hồi ức của Hoàng Hải Thủy (lúc lên voi) và Nguyễn Xuân Hoàng (khi xuống chó).

3. ÔNG GIÁN ĐIỆP 
Hơn chục năm viết lách, ông có hơn 30 đầu sách rất ăn khách ở miền Nam VN.

Là truyện phản gián, nhưng trong đó đầy ắp kiến thức về những vùng đất, quốc gia trên thế giới; về văn hóa, văn chương, khoa học; về các loại vũ khí và võ thuật; về rượu và cả đàn bà :p v.v...

Ở cái thời mà chỉ có một đường tra cứu qua sách vở nước ngoài (Pháp-Anh), đáng bái phục khi tác giả có những kiến thức rộng khắp như vậy.

Người đọc được ông đưa đi khắp thế giới, từ Châu Âu (Bóng ma trên Công Trường Đỏ, Mây mưa Thụy-Sĩ, Ba-lê mắt biếc môi hồng, Đêm loạn Hamburg, Tây Ban Nha 200 tấn vàng đẫm máu...) đến Châu Á (Bhutan sấm sét rừng khuya, Cát-sơ-mia sông máu thuyền hoa, Hận vàng Ấn Độ, Bắc Kinh 72 giờ nghẹt thở ...) và vùng Đông Á (Máu loang Chùa Tháp, Macao trinh nữ giang hồ, Bí mật Hồng Công, Mèo Xiêm Cọp Thái, Hồn ma Diến Điện, Vạn Tượng khói lửa, Cạm bẫy trên giòng Chao Phya...), tới châu Mỹ (Cuba đêm dài không sáng, Hạ Uy Di đáy biển mò kim, Rio đảo tình bốc cháy, Người đẹp Qui-tô...) Đặc biệt là đến miền Bắc Việt Nam (Vượt tuyến - điệp vụ bên kia vĩ tuyến 17).



Ông là Người Thứ Tám, tác giả serie tiểu thuyết gián điệp Z.28 (nhân vật chính đại tá tình báo Tống Văn Bình). Tiểu sử và hành trạng của ông cũng khá bí hiểm, như thể loại văn chương của ông.

Lượm lặt vài thông tin ít ỏi: Ông tên thật là Bùi Anh Tuấn, sinh năm 1925, quê Thanh Hóa, 1954 di cư vào Nam. Một con người "điềm đạm, nhã nhặn, nghiêm túc trong tiếp xúc với bạn bè, trong công việc; ... không bao giờ la cà trong các chốn trà đình tửu quán. Nếp sống của anh dành hoàn toàn cho mái ấm gia đình, cho sự chăm sóc bà vợ vốn tình trạng sức khoẻ không được tốt lắm; sau các việc hàng ngày. Anh phục sức, mang dáng dấp của một thông tín viên Âu Mỹ thời đó đến Saigon."

Thời trẻ, ông là đảng viên Quốc Dân Đảng, bị Việt Minh bắt giam ở trại Đầm Đùn khét tiếng và học tiếng Anh từ một người bạn tù. Chắc chắn, vốn liếng 'ngoại ngữ mới' này giúp ông rất nhiều trong cuộc sống một người di cư ở miền Nam VN thời Mỹ. Sau 1975, ông di tản ra nước ngoài và gần như bặt tiếng giang hồ.

May mắn là có nhiều tiểu thuyết của ông được tải trên internet, những độc giả yêu quí Z.28 có thể đọc lại những áng văn từng làm mê mải mình thời tuổi trẻ!
______
Ảnh: Hình bìa sách đặc trưng của serie Z.28; đơn giản, nhất quán, không màu mè.
»»  read more

24.6.18

ronéo - stencil và kỷ niệm

Công nghệ phát triển quá nhanh đã khai tử nhiều thứ. Trong chuyện liên quan đến in ấn và sách báo thời học trò, lớp trẻ sau này đã không biết đến máy đánh chữ (typewriter), máy quay ronéo và giấy sáp stencil...

Thuở trước 1975, hàng năm, ở miền Nam, học sinh trung học đã ra được những đặc san văn thơ của lớp mình. Mỗi lớp, ngoài lớp trưởng lớp phó, đều có một trưởng-ban-báo-chí phụ trách vụ việc văn chương phú lục này!

Và, tuyệt đại các đặc san học trò đều dùng cách in quay ronéo, vì nó phổ biến, dễ thực hiện và có giá thành thấp.

Nguyên tắc in: bài vở được đánh máy hoặc viết tay, vẽ vời trang trí bằng một ngòi bút sắt, làm thủng tờ giấy sáp (stencil), khi đưa vào máy, mực sẽ "in" các hình ảnh con chữ (gọi chung là tàii liệu) qua các phần thủng này xuống tờ giấy.

Một tờ giấy sáp stencil, gồm 3 trang. Trang dưới cùng dày, nhằm bảo vệ cho tờ stencil không bị hư rách. Trang giữa là giấy carbon, có phần than (màu đen hay màu xanh) để làm rõ 'tài liệu' lên bề mặt trang trên cùng. Trang trên cùng là giấy sáp, để đục thủng khi thực hiện các tài liệu. Khi in, chỉ sử dụng trang trên cùng này, bỏ 2 trang kia.

Minh họa hình ảnh, trang trí các nhan đề, viết chữ với cây bút sắt nhọn, làm thủng tờ giấy sáp mà không để bị rách bị lỗi, đạt tính mỹ thuật, là công phu lắm lắm.

Nhưng vì màu mực ronéo rất hạn chế, chỉ đen, nâu và xanh, tờ báo học trò nhìn chung, khá đơn điệu. In khắc kẽm cũng không khá hơn, còn in offset nhiều màu thì túi tiền học sinh không kham nổi. Tôi còn nhớ, năm lớp Tám Trường Kỹ Thuật Đà Nẵng, chúng tôi ra cuốn đặc san Lối-Ngại có cái bìa màu; đủ màu, rực rỡ và bắt mắt. Có lẽ đây là cái bìa màu đầu tiên của đặc san học trò xứ này!

Cái khó ló cái khôn mà thôi. Chúng tôi in bìa báo bằng ronéo, hình ảnh, chữ nghĩa chỉ dùng nét bút. Sau đó, tô màu nước một bản làm mẫu, dán lên bảng đen, toàn bộ lớp, nhìn đó tô theo. Học môn hội-họa từ lớp Sáu, tô màu cho trúng là chuyện nhỏ. Thế là vài trăm cái bìa màu hoàn thành, được đóng vào đặc san, bọc một lớp nilon.
Một trang bào ronéo đen trăng và được lên màu ngày trước

Mang sang các lớp bạn, trường bạn... bán chạy như tôm tươi. Hàng đắt khách nhưng thương vụ thì thua đậm do sai lầm bán cho chịu nợ (hẹn mai ghé lại thu tiền). Mai này, mai nữa lại mai mai...

Tiền vốn góp của lớp đã đội nón ra đi, còn tiền "vay" của thầy cô giáo thì đành gãi đầu gãi tai gãi trán xin... xù.

Dù sao, đó vẫn là một kỷ niệm đẹp nhất của thời trung học.
»»  read more

19.10.13

ký ức

Mưa
Cho tôi thấy em
Thuở thì xanh
Vai nghiêng tóc duỗi
Má sen ngày đắm đuối
Tay ngó thơm từng giọt thuôn dài

Mưa
Cho tôi thấy tôi
Lá sẫm cây ướt chiều
Hai mi đường cô độc
Con mắt đêm đổ vào tay rỗng quạnh hiu

Mưa
Không ai thấy ai
Về chìm dầm dề lá cỏ
Trôi lịm chân ngày ráng úa
Lướt thướt áo ngày xưa

Mưa
Nỡ dìm chi giấc nhỏ
Suốt mùa mơ.

»»  read more

8.10.13

chuyện bút

bút tire - ligne
1.
Chắc không có nhiều thứ vật dụng gắn bó với con người từ bé đến lớn ngoài áo quần giày dép nón mũ che thân, chén tô bát đĩa đũa muỗng để ăn nhậu và tiền để chi xài…

Có một vật, đã gắn bó với con người từ ngày hồng hoang, còn ăn lông ở lỗ (tức là chưa có đồ che thân, chưa có vật đựng thức ăn và cũng chưa có… tiền) đến tận thời kỹ thuật số này: vật để vẽ viết – cái que, hòn than, cây bút…

Dẫu bây giờ, gõ phím và rê chuột nhiều hơn, cây bút vẫn chưa rời nắp túi áo con người.

Mới quơ quào được tay chân, còn bò lổm ngổm, nếu vớ được cây bút chì, hòn than, cục phấn, con người sẵn sàng vạch những nét sáng tạo đầu tiên.

Đến ngày tay run lẩy bẩy, mắt mờ tai điếc, tuổi già cẩn trọng vẫn còn bắt con người vạch những nét cuối cùng của cái tên mình vào tờ di chúc!

Hầu hết mọi sáng tạo của con người đều bắt nguồn từ cây bút: viết văn, làm thơ, vẽ tranh, kiến trúc, viết nhạc…

Và mọi nền văn minh được lưu lại cho hậu thế cũng bằng cách ghi chép qua ngòi bút. Ngòi bút dẫn dắt con người đi xuyên thời gian không gian, từ bóng đêm mông muội đến ánh sáng hiện đại. Ngòi bút góp phần biến đổi con người từ một-sinh-vật trở thành một-lịch-sử, quán xuyến quá khứ-hiện tại-tương lai.

2.
Cây bút gắn với một người, na ná cũng giống như nó từng làm với loài người từ khởi thủy đến nay. Bắt đầu từ hòn than cục phấn, vẽ nhăng nhít cùng nhà, đến cái bút chì - đen cũng như màu - nghuệch ngoạc những nét trên tờ giấy trắng. 

Thêm một bước nữa để lớn lên, là lúc nhóc nắm cây bút chì lọng ngọng trong những ngón tay vụng về, tạo ra những nét bút còn vụng về hơn, tô những chữ đầu đời trên trang vở. Hình ảnh một nhóc, bặm môi hay thè lưỡi, vẹo đầu, nghiêng cổ theo từng đường chì là hình ảnh chung của nhân loại khi vẽ những bích họa hình bò ngựa trong các hang động thời đồ đá cổ xưa.

Khi cô giáo cho rời cây bút chì, chuyển qua dùng bút mực, là nhóc đã lớn hơn với những ngón tay cầm bút đã chắc chắn và thành thạo, đi thêm một bước nữa về phía trưởng thành.

3.
Tôi được may mắn trong đời mình sử dụng hầu hết các loại bút mực.

Học trò tiểu học dùng bút chấm mực: ngòi lá tre, ngòi rông. Thời này cái bình mực không đổ là phát minh thần kỳ, giúp sách vở, quần áo các ông nhóc thôi loang lổ mực xanh mực tím.

Học trò trung học trở lên, dùng bút máy, bút bi. Cây bút bi xuất hiện ở miền Nam mang hiệu Bic với logo thằng người đầu tròn to. Bút bi là gọi theo bây giờ, chứ thời đó nó có một cái tên rất dữ dội làbút-nguyên-tử. Cái tên này từ đâu ra, hay đó là thời chiến tranh lạnh bom nguyên tử lơ lửng trên đầu thế giới, ám ảnh thời đại vào cây bút; hay ngòi của nó là một viên bi tròn, gợi lên hình ảnh của một nguyên tử! Như cây bút máy, cái tên cũng ám ảnh thời thế giới công nghiệp hóa, chứ máy móc gì đâu, nó chỉ có cái thêm ống đựng mực để cung cấp liên tục cho ngòi bút, khỏi phải chấm như cây bút thường.

Trước 75, miền Nam bút máy là Paker, Pilot. Sau năm 75, tiếp xúc với bút Hồng Hà, bút Kim Tinh từ miền Bắc. Thời khốn khó hậu chiến, có thêm nghề tái chế bút bi, ruột bút dùng xong bơm mực trở lại xài tiếp, gặp phải mực dở có khi dắt bút vào áo, mực chảy ra tè le tùm lum. Đầu bút bi trở thành là món hàng buôn lậu có giá.

Dân học kỹ thuật như bọn tôi, còn được sử dụng bút tire-ligne, một loại bút vẽ chấm mực, điều chỉnh được nét. Môn kỹ nghệ họa (giờ gọi là vẽ kỹ thuật) thời đó rất khắt khe, trên bản vẽ từng loại nét mịn, vừa, lớn… bắt buộc phải có độ dày giống nhau, không sử dụng tire-ligne thành thạo, có nghề, bài tập vẽ có nguy cơ rớt hạng. Sau này được dùng bút kim (chiến nhất là hiệu Rotring), sướng hơn tire-ligne do mỗi cây bút kim có cỡ nét khác nhau, khỏi phải điều chỉnh mệt xác! Bút gì mực đó, với dân kỹ thuật, mực Pelikan là số zách, đen không gì đen hơn, chịu được nước, khó nhòe.

Mê nhạc, tôi được bày cho làm cây bút kẻ 5 dòng: một miếng vỏ hộp diêm được cắt răng cưa 5 đầu nhọn, gắn vào một quản bút, thế là khỏe re như con bò kéo xe, một đường bút là có ngay 5 dòng nhạc đều tăm tắp. 

Mê vẽ, tôi cũng từng xài bút lông cho các bức màu nước, panhxô cho các bức sơn dầu.

Chắc chỉ có cây bút lông ngỗng thất truyền là chưa xài thôi!

4.
Lên lớp sáu, mẹ thưởng cho tôi cây bút máy. Lâu này thèm thuồng cây bút máy Pilot màu xanh ngọc, ngòi mạ vàng, vội vàng đến nhà sách, khảo giá rồi xin tiền mẹ. Khi mang về nhà săm soi mới phát hiện không phải là cây Pilot mà mình mơ ước. Một cây bút hàng nhái, giống y chang, chỉ có cái hiệu là hổng phải! Chạy ra nhà sách coi lại, cây bút thật có giá… trên trời. Nhà nghèo đâu có dám xin một số tiền lớn vậy! 

Đau khổ tràn trề, trằn trọc suốt một đêm!

Hôm sau, vạch ra một kế hoạch liều mạng, lận lưng cây bút nhái, ra hiệu sách hỏi mua cây bút thật, cầm lên đặt xuống săm soi, và thừa cơ cô bán hàng lơ đễnh, tráo cây bút nhái của mình, rồi trả lại. Ông nhóc từ nhỏ đến lớn vốn thiệt thà, giờ làm việc dối trá, ngoài mặt làm bộ tỉnh nhưng trống ngực đánh rầm rầm, ruột gan rối loạn tùng phèo. Đến khi điệp vụ hoàn thành, giả đò bước chậm rãi ra khỏi nhà sách, vừa khuất cửa, ba chân bốn cẳng vội rảo lên, rồi chạy biến vào con hẻm quanh co một lúc mới về nhà.

Sự sung sướng được thỏa lòng ước ao, làm mờ đi mặc cảm tội lỗi. Nhưng vụ dối gạt này cả đời không thể nào quên được.

Cây bút này theo tôi mãi cho đến năm 75 rồi bị đánh mất cùng cái va li trong đêm chạy loạn!
»»  read more

28.6.13

rác Mỹ

Công viên 29/3 - Đà Nẵng
1.
Đà Nẵng bây giờ, ngang qua công viên 29/3 xanh um cây lá, bát ngát hồ nước, chắc nhiều người, nhứt là lớp trẻ sau này, quên hoặc không biết hồi xưa vùng này là cái gì.

Nhà tôi ở Chính Trạch, đường Thống Nhứt (giờ là Lê Duẩn), cách chỗ này không xa. Khu công viên bây giờ hồi xưa có tên là Hầm Bứa, thời chiến tranh là bãi rác Mỹ.

Khi Mỹ vào VN, đầu tiên đóng quân ở Đà Nẵng. Đám GI này đi đến đâu là khuấy động cả địa phương rầm rầm chạy theo phục vụ những nhu cầu khổng lồ của đội quân viễn chinh xài sang như… đế quốc.

Lập tức sinh ra các nhà thầu rất đặc biệt cho quân đội Mỹ: thầu giặt ủi, thầu hớt tóc (ba tôi hớt tóc cho lính Mỹ trong sân bay ĐN cho bà nhà thầu có cái tên như ngôi sao điện ảnh Hongkong: Lý Lệ Hoa), thầu đổ rác…

Đổ rác cũng phải đấu thầu. Vì đây hổng phải là rác Việt nhà ta, tận cùng bằng số, không còn gì để xài tiếp nữa, họa may là mần phân bón. Rác Mỹ sang như… Mỹ. Hai phần ba rác là còn xài được, xài tốt. Quần áo, đồ dùng, chăn đệm, thực phẩm, thuốc men… đều được các nhà thầu rác sàng lọc, nhặt nhạnh và gom lại. Nguồn tiêu thụ là chợ trời.

Còn lại đổ ra Hầm Bứa. Đến lúc này qui trình sàng lọc lại tiếp tục bởi đám dân nghèo, lũ con nít lau nhau – trong đó có cả thằng tui.

Không có cảm giác hôi thối trên bãi rác lắm. Nồng mùi sắt gỉ, mùi khói từ các đống cháy dở. Lang thang trên đó, lũ trẻ con chúng tôi nhặt nhạnh đủ trăm thứ bà rằn. Cái bi đông méo mó, cái xanhtuyarông lính to bản, cái mở hộp, con dao canip cả chục lưỡi khác nhau… Sau lễ lạc, nhứt là mùa Noel, tha hồ những thứ trang trí xanh đỏ tím vàng, dẫu có sứt sẹo tả tơi, cũng là thiên đàng đồ chơi, một cái toys shop khổng lồ cho lũ trẻ nghèo thành thị.

Và đồ hộp Mỹ, cái đệ nhất khoái của đám trẻ con. Những hộp bánh B1, B2, những hộp mứt nho mứt cam, và dở nhứt, hộp đậu phụng xay. Quá đát với Mỹ thôi, với ta các thứ đó còn tươi ngon chán.

Thỉnh thoảng, bất ngờ lại có mấy viên đạn đồng sáng loáng, chẳng hiểu vì sao lại lọt ra chốn này.

2.
Ngoài cái chốn rác trần tục trên, thằng tôi còn một cái thú lục rác Mỹ khác nữa. Vụ án này chỉ đi có một mình, kiên quyết không rủ bất kỳ thằng bạn nào đi theo.

Rác này văn hóa lắm!

Cạnh bờ sông Bạch Đằng, chếch về hướng đường Đống Đa, có một khu nhà biệt thự cho người Mỹ ở. Bây giờ khu nhà đó vẫn còn. Đám Mỹ này có vẻ cao cấp, vì được ở riêng. Nhà đẹp, có vườn tược, rào dậu cẩn thận, thỉnh thoảng có MP đứng gác trước cổng.

Từ nhà tôi đi lôcachân xuống đó xa lắm, nhưng mê mải thì vẫn tiến quân trên đường dài thôi. Nói vậy chớ thời học trò, chỉ có hai cái cẳng thôi, chứ xe cộ gì đâu. Từ nhà xuống trường Phan Chu Trình, lê lết qua Hội Việt Mỹ, Hội Việt Pháp, thơ thẩn bờ sông hóng gió cũng đi bộ, mà đi học trường Kỹ Thuật ôm cái bảng vẽ to tướng, lang thang tắm biển Thanh Bình thì cũng bộ mà đi.

Trở lại vụ lục rác văn hóa, xuống khu này là canh me mấy cái thùng rác, lượm các bì thơ. Lúc nào cũng có một mớ, thì từ Mỹ qua đây cũng phải thơ từ bà con cô bác gửi đi gửi lại thăm hỏi nhau chớ.

Cái quí giá trên các bì thơ đó có hình thù nho nhỏ, nằm nép ở góc trên bên phải. Những con tem Mỹ.

Phải, những con tem từ nước Mỹ xa xôi. Khi thì tòa nhà quốc hội, lúc lại White House, lúc ông Lincoln mặt mày ốm nhom mà râu tóc bù xù.

Làm chi với những con tem Mỹ? Khổ thân, đó là lúc hứng chí theo thú sưu tầm tem. Những con tem lượm về, được hơ trên hơi nước của nồi cơm bốc khói cho dễ bóc, rồi hì hà hì hục tối ngày với mấy cái anbum, cái nhíp, có được con tem quí thì y như đêm đó trằn trằn trọc trọc.

Mà quí gì cho cam. Khi lớn lên mới thấy bộ sưu tập tem của mình là đồ bỏ. Chẳng đáng sá gì. Thôi cũng an ủi, mình cũng từng có cái sở thích đầy văn hóa, còn hơn tụ tập xì ke ma túy, đánh lộn đánh lạo.

Thời đó, thú này có cái tên hay hay: sưu tập bưu hoa.
»»  read more

29.4.13

thời của... ghẻ

Một thời ghẻ ngứa 

Phạm Hoài Nhân

Sắp tới ngày 30 tháng 4, nhiều người kể về những kỷ niệm, những ấn tượng của mình đối với ngày này. Vui có, buồn có, hân hoan có, uất hận có. Đối với tôi những ấn tượng sâu sắc nhất là tại thời điểm diễn ra trận đánh Long Khánh, 9 đến 21 tháng 4 năm 1975, tôi đã kể lại rồi. Còn 30 tháng Tư và sau đó thì thú thiệt là... không có ấn tượng gì sâu sắc cả. À mà có, có chứ! Những ngày sau 30 tháng Tư năm 1975 đã để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc, không thể nào quên. Đó là nỗi nhớ cồn cào của một thời ghẻ ngứa!

Từ cha sinh mẹ đẻ cho tới tháng Tư 75 ấy, có đôi khi tôi cũng bị ngứa. Ấy là khi bị muỗi cắn, kiến cắn, hoặc ăn phải cái gì đó bị dị ứng. Thế nhưng ngứa một cách lâu dài, triệt để toàn diện thì chỉ sau 30 tháng 4 năm 75 mới đạt được.


Nói cho chính xác, cơn ngứa 75 ấy không chỉ là toàn diện mà là toàn thân, chỗ nào cũng ngứa. Còn xét về đối tượng thì là  toàn dân, không phân biệt gái trai, già trẻ, sang hèn. Nhà nhà, người người cùng ngứa. Nhà nhà, người người cùng gãi. Gãi mọi lúc, mọi nơi.

Khổ, lúc ấy là lúc giao thời, mọi tiện nghi cơ bản hầu như biến mất. Thuốc men, xà bông tắm không có, thậm chí nước cũng thiếu! Bối cảnh ấy càng làm tinh thần ngứa phát huy cao độ!

Theo quy luật của triết học Mác - Lênin, khi phát triển lên lượng sẽ biến thành chất. Ghẻ ngứa phát triển mạnh sẽ tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên ghẻ lở, mụt nhọt. Lúc ấy không chỉ ngứa mà còn đau nhức nữa!

Thuở ấy tôi 15, 16 tuồi, đang tuổi mới lớn, mà khổ thay ghẻ ngứa lại phát huy tác dụng mạnh nhất ở cái chỗ bí mật. Đang trò chuyện, giao tiếp với ai đó mà cơn ngứa chẳng đặng đừng, thò tay vô chỗ đó gãi sồn sột thì thiệt là... Nhưng như vậy vẫn chưa hết, khi ghẻ ngứa phát triển thành ghẻ lở mới là bi kịch. Đi đứng, cử động là chỗ lở bị cọ vô... quần xà-lỏn đau thấu trời. Thế là có tướng đi khệnh khạng, dáng đứng chàng hảng, thiệt là khó coi! Chưa kể là lúc đó còn nhỏ, lại chẳng biết hỏi ai (đi bác sĩ lại càng không thể vì... làm gì có bác sĩ và làm gì có tiền) nên cứ lo lắng, không biết rằng như thế thì liệu rằng cái đó có bị hư luôn không!


Như đã nói, thời đó chả có thuốc men gì cả, nên người lớn bày cho những cách trị dân gian, không tốn tiền. Để trị ngứa thì đi hái lá khổ qua rừng về nấu nước tắm. Để trị nhọt thì lấy lá rau đay đâm nhuyễn ra và đắp lên mụt nhọt, nó sẽ hút mủ ra. Thời ấy mấy thứ đó còn mọc hoang nhiều lắm, đi một chút vô rẫy là hái được. Nói chung cũng có công dụng phần nào.

Tình trạng trên không nhớ là kéo dài bao lâu, nhưng ít ra cũng là cả năm trời. Tại sao lại bị ghẻ ngứa như thế? Tại sao trước giải phóng không có mà ngay khi giải phóng xong là bị ghẻ? Có người giải thích là do vừa qua đợt đánh nhau dữ dội, thuốc súng lan đầy không khí. Có người nói đó là do chất độc da cam. Có người cho rằng tháng 4/75 tại Long Khánh có bỏ bơm hơi ngạt nên ảnh hưởng...
 
Hồi đó thông tin ít, tôi nghĩ chắc chỉ có Long Khánh, nơi mình ở, là bị ghẻ ngứa. Hai năm sau, tôi đi học ở ĐH Bách khoa TPHCM, tiếp xúc với nhiều bạn bè ở khắp các miền đất nước, mới biết là nơi nào cũng bị ghẻ ngứa chứ không chỉ Long Khánh (như vậy nói do bom hơi ngạt ở Long Khánh là sai!).

Tôi cũng được nghe một nickname của cái bệnh ghẻ ngứa ấy là Ghẻ bộ đội, kèm với lời giải thích nguyên do ghẻ là do... mấy anh bộ đội đem từ Bắc vô!

Cho đến giờ tôi cũng không biết nguyên nhân chính của cơn ghẻ ngứa năm ấy là gì. Đọc bài này, bạn nào biết xin giải thích giúp tôi nhé. 

Tuy nhiên, biết nguyên nhân gây ra ghẻ ngứa không phải ý chính của bài viết này. Ý chính là thế này: Có người hỏi tôi kỷ niệm sâu sắc của ngày 30 tháng Tư năm 75 đối với tôi là là gì. Thì đó, tôi chỉ nhớ nhất kỷ niệm ghẻ ngứa ấy thôi!....


___________________
P/S của Nô: Khoái bài viết này vì nhắc lại một cách dí dỏm cái thời đau thương ấy. Những đứa bạn tui từng bị "ghẻ bộ đội" đầy cả mười ngón tay, không cầm bút được, đành phải nghỉ học. Toàn dân ngồi đâu gãi đó, dân xứ Quảng tui gọi là "gảy đàn Ta Lư" (nhại theo tên bài hát cách mạng: Tiếng Đàn Ta Lư). Riêng tui thì đến giờ vẫn còn mãi "dấu tích không phai" là mông và háng chàm hóa đen thui! Hic!

»»  read more

18.4.13

ký ức vòng vèo

W. Saroyan
1.Buổi sáng, trong chòm lá rậm nở đầy những chuỗi hoa tím còn ướt sũng mưa tối qua, chợt thấy bay chấp chới một chú chim ruồi.

Lần đầu tiên trong đời thấy chim ruồi. Lâu nay tưởng không có ở xứ miềng!

Chú chàng bé bằng ngón tay cái, thân xanh ánh pha tím biếc, lấp lánh phản chiếu ánh sáng theo nhịp cánh vỗ. Cái mỏ dài cong bé như vòi lọ keo chọc vào những nụ hoa. Chú đang say sưa hút mật! Chuyển động chim ruồi thật lạ lùng: đôi cánh vỗ nhanh đến mức như vô hình, khiến chú có thể đứng yên giữa không trung, hoặc giật lùi, lên xuống. Một tạo vật của thiên nhiên với những chuyển động như một cỗ máy nhân tạo tí hon.

Đứng thần ra ngắm cho đến khi khi vụt một cái, chú chao cánh biến mất!

2.Bất giác nhớ W. Saroyan với cuốn "Chàng tuổi trẻ gan dạ trên chiếc đu bay" trong đó có loạt truyện ngắn dưới tựa chung Người có trái tim trên miền cao nguyên, có nói về một chú chim ruồi sống qua mùa đông.

Tôi nghe nói rằng chim ruồi du hành những chặng đường dài, thật khó có thể tin được khi nhìn thấy một sức lực yếu ớt và mỏng manh đến thế. Vậy thì cái gì chở tải nó? Tinh thần ư? Nhưng những điều tôi biết rõ nhất về chim ruồi chính là do những gì tôi quan sát được về chúng: chúng ta chỉ thấy được chim ruồi khi mặt trời thật sự xuất hiện, khi có hoa nở, và khắp nơi đều có hương hoa. Hiếm có khi đi suốt một ngày đẹp trời mà lại không thấy bóng con chim ruồi lờ lững như một phép lạ nhỏ bé trong nắng ấm hoặc trên một đoá hoa lớn hay một chùm bông nhỏ. Hoặc quay tròn như một cơn điên vui hay bắn thẳng lên như một mũi tên không về một nơi nào cả và cũng chẳng bởi một nguồn cơn nào, có thể vì một lý do là nó cần sống. Vậy thì, làm thế nào mà những sinh vật như vậy - quá xinh đẹp, quá dịu dàng và một chút điên dại thơ mộng - có thể có thì giờ để làm cái công việc tầm thường như sinh con đẻ cái, các thứ? Hoặc phải theo luyện cho được cái bản năng tự tồn tại kia chứ? Thế nhưng dù gì đi nữa, cũng cầu trời sao cho một ngày đẹp sẽ đến, và lung linh chim ruồi bay đầy khắp... (W.Saroyan)

Chú chim ruồi được cứu bởi Dikran, một nông dân Armenia già mắt gần như mù. Hình ảnh chú chim nhỏ xíu hồi sinh với một thìa mật ong nóng trong bàn tay to lớn nhăn nheo già cỗi hằn mãi trong ký ức! Như một tác phẩm nhiếp ảnh diệu kỳ!

3. Cuốn truyện trên là cuốn sách duy nhất tôi mang theo, sau biến cố 75, khi ra Huế, về Đồng Di, quê của một thằng bạn. Hai thằng đón xe bộ đội (thời điểm đó chưa có xe đò xe khách gì ráo) vượt đèo Hải Vân. Những chuyến xe mang quả tên lửa lừng lững trên lưng chạy ra chạy vào Huế - Đà Nẵng suốt cả ngày. Tôi nói với bạn: Ra vào thế này là kiểu nghi binh!?

Về đến quê bạn, nằm dài trong đống rơm vàng óng thơm nức mùi lúa chín, đọc Saroyan. Cơm gạo mới ăn với cá đồng, tôm đồng kho khô quắn lưỡi vị cay xứ Huế, ngon không gì tả nổi. Tối ra sân đình đập lúa nghe tiếng líu lo của mấy o thôn nữ Huế với nhiều từ địa phương, nghe như hát chứ không hiểu kịp mấy o nói gì!

Mãi sau này khi thấm thía cái khổ những năm hậu chiến, tự dưng tôi cứ nhớ câu chuyện thằng bé Luke nghèo đi bán cam bên đường của Saroyan.

... Nhiều xe tiếp tục lướt qua và dường như là, nó nên ngồi xuống, thôi cười và khóc vì khủng khiếp quá đi mất. Họ chả muốn mua cam và lại không ham nhìn nó cười theo cái lối mà chú Jake bảo là họ sẽ khoái.

Trời nhá nhem tối và có tận thế đi nữa nó cũng chả thiết. Nó mơ hồ tin rằng nó sẽ còn đứng đó, giơ tay lên và cười cho đến khi tận thế.

Nó thầm đoán rằng, nó sinh ra chỉ để làm vậy, chỉ để đứng ở góc phố, giơ cam lên vẫy và cười với thiên hạ cùng những giọt nước mắt to tướng và nóng hổi lăn trên gò má cho đến ngày tận thế. Tất cả đều đen tối, trống rỗng, và nó thì cứ đứng đó cười cho đến khi gò má đau buốt, và khóc lặng lẽ vì chẳng ai cười lại với nó, và cả thế giới có muốn chìm vào bóng tối và tiêu tán thành tro bụi, và Jake có thể chết, và cô vợ chú cũng thế, tất cả nhà cửa đường phố người ngợm sông ngòi cánh đồng bầu trời có thể tiêu ma đến tận cùng, và có thể chẳng còn ai trong cõi người ta này, hay một con đường hoang vắng, một cửa sổ tối đen một cánh vừa khép kín vì họ không muốn mua không muốn cười với nó, và cả thế giới dẫu có trôi biến về tận cùng, nó cũng cóc cần. Cóc cần tí nào, phải không? - (W.Saroyan)


4. Quá 50 tuổi đầu rồi, mà đôi khi lẩn thẩn cứ nghĩ mình sao mà giống thằng bé Luke này quá. Cũng đứng bên đường, tay giơ lên cầm hai quả cam, xoạc miệng cười để thiên hạ có cảm tình, mong cho kiếm được đồng tiền!

Mà đứng mãi, vô vọng giữa trời chiều!

Ôi cái ký ức bắt đầu từ một cánh chim ruồi kỳ diệu lại dẫn ta vòng vèo đến hình ảnh ảm đạm thế này ư!
»»  read more

26.4.11

Bờm và Anh


Thi Văn Đoàn Thằng Bờm do thi sĩ Nguyễn Vỹ thành lập (1970) tại Sài Gòn. Sau đó một số tỉnh thành cũng có các phân đoàn: Nha Trang, Đà Nẵng, Đà Lạt, Huế... Anh Lê Khắc Văn là Phân đoàn trưởng Đà Nẵng.

Lúc này thật êm vắng, không một tiếng động ngoài vườn nửa khuya. Lũ ếch xanh xám cũng đi đã ngủ trong hồ nước nhỏ. Chắc chỉ có cây sứ già mơ màng thả nhẹ nhàng những bông rơi trong bóng tối, để mai thấy trắng cả góc vườn. Thơm lắm nào hương nguyệt quế, hương khuyên tai, hương ngọc lan, hương cau, hương nhài. Tôi ngồi trước PC, đọc email Bờm, đọc trang web Bờm và nhớ.

1.
Tôi vào Bờm Đà Nẵng muộn, qua Lê Văn Quang (học cùng tôi hai năm lớp sáu, bảy trường Phan Chu Trinh) và sau đó Dương Đăng Cả (học cùng ở Trường Kỹ Thuật) giới thiệu. Chúng tôi cùng nhóm Đinh Bộ Lĩnh với Nguyễn Hữu Cử, sau này có thêm Nguyễn Sanh Ngọc, Đinh Thanh và… nhiều anh em nữa. Lúc này Bờm không chỉ thơ văn, đã chuyển qua hoạt động như hướng đạo với đồng phục, khăn quàng.

Tôi nhớ cái áo Bờm màu hoàng yến, vốn là áo trắng học sinh được nhuộm từ giấy bóng kiếng màu vàng (loại dán lồng đèn Trung Thu) nấu trong nước sôi,

Sau này, năm anh em, Dũng Quang Cả Ngọc Cử, rủ nhau lập một nhóm nhỏ nữa, gọi là nhóm Lam và đặt các bút hiệu: Mai Lam, Thụy Lam, Dạ Lam, Vi Lam, Đan Lam. Tôi là chàng láu táu, lắm tài vặt nên bị bốn chàng còn lại đẩy vào tư thế… lãnh đạo. Mấy anh em cùng nhau viết văn làm thơ. Tài hoa nhất là Ngọc-Vi Lam, có thơ đăng báo đàng hoàng.

Trong ba năm cùng Bờm với nhau (thời gian ngắn ngủi mà sao tình gắn bó thật dài), cả nhóm có một tập thơ chung. Thật tiếc qua nhiều biến động, không ai còn lưu giữ được cái kỷ niệm hiếm có ấy. Nhưng những ngày hăng hái lăng xăng để ra được tập thơ thì không thể ai quên!

Đó là tập thơ mỏng được đánh máy làm năm bản trên giấy pelure hồng, mỗi chàng năm bảy bài, và tất nhiên có các bức vẽ minh họa và trình bày bìa do Dũng-Mai Lam thực hiện. Bìa trang trọng lắm, được quay ronéo nét trên giấy croquis, sau đó tô màu nước, bọc nilon. Phải nói là tập thơ đầy vẻ đẹp lãng mạn của tuổi học trò.

Chúng tôi cũng hãnh diện ngầm, cái hãnh diện trẻ con, rằng mình cũng có tác phẩm được… in ấn xuất bản đàng hoàng chớ bộ. Cũng có cái để ngước nhìn được lên các đàn anh: Trần Hoàn làm thơ “thần sầu”, Dương Đăng Cao văn thơ họa “bay bướm”…, cùng các đàn chị tài hoa: Như Hòa, Kim Hương, Tố Trinh… và nhiều “cây đa cây đề” khác nữa.

2.
Câu trích cũ mòn, sáo và sến nữa, nhưng sao vẫn đúng: một thời để yêu và một thời để chết.
3.
Để nhớ một người, Anh, Lê Khắc Văn.

Trong bài viết nhân 40 năm Bờm, tôi gọi anh là người anh hùng trong tâm tưởng thời niên thiếu của tôi. Và đến bây giờ, trong tâm tưởng của một người quá tuổi 50, vẫn chỉ có một anh hùng duy nhất ấy!

Anh hùng vì thuở đó tuổi anh còn nhỏ hơn con tôi bây giờ, nhưng thừa bản lĩnh, niềm tin và sức mạnh tinh thần để dẫn dắt những-thiếu-niên-chúng-ta vui chơi, phiêu lưu, thương yêu nhau trong mấy năm trời. Tình yêu ấy, còn cháy sáng trong tim, đến tận những ngày này chưa tắt.

Anh hùng vì qua Anh, với Anh từng người chúng ta đều cố rèn nên một bản lĩnh. Những chiều chủ nhật sinh hoạt, những đợt trại ngắn ngày, những chuyến trại bay dài ngày trong tuổi nhỏ ngày ấy, chúng ta tràn đầy sinh lực và ý chí tự chủ, không hề thấy mình yếu đuối, bé bỏng phải dựa dẫm, nhờ vả vào ai.

4.
Tôi có hai kỷ niệm nhỏ với riêng Anh.

Anh là người giúp tôi hiểu trọn vẹn những kiến thức về âm nhạc của mình. Anh không trực tiếp dạy tôi về âm nhạc, nhưng qua lớp guitar của Anh ở nhà Trần Hoàn (hồi đó, tôi đã chơi được vài loại đàn rồi), nói như kiểu nhà Phật: tôi được-khai-thị về nhạc. Các bạn có thể cho tôi nói quá, nhưng sự thật là vậy.

Trước đó, tôi đã được học nhiều về nhạc lý, nhưng vẫn mù mờ một cái gì đó, lướng vướng một cái gì đó khiến mớ kiến thức của mình cứ u u minh minh. Một buổi chiều, tham gia lớp guitar, nghe anh Văn nói về nhịp điệu, tự nhiên trong đầu tôi như có cái gì vỡ ra, sáng ra và toàn bộ những cái tôi biết về âm nhạc tự nhiên mạch lạc, rõ ràng, khúc chiết.

Chắc một thiền sư ở giây phút ngộ giác, cũng vui sướng hoan lạc như tôi vào lúc đó!

Đó là duyên, là cái để ghi nhớ mãi!

Chuyện thứ hai, trong chuyến trại Đà Lạt. Chiều hôm đó, sau khi cả đoàn đã lên Đà Lạt, chỉ còn Anh và tôi ở Phi Nôm, giữ đám xe đạp sứt mẻ sau chuyến đi dài.

Phi Nôm thuở đó là ngã ba đường thiên lý, nhỏ bé, đìu hiu, đất đỏ mịt mù. Những mái nhà tôn rỉ sét nép trong các tàng cây. Đang hè, nhưng trời xám mây, lất phất sương mưa.

Ăn tối xong, đang gặm ổi, Anh rủ tôi lên Prenn chơi hè! Thì đi, chọn hai chiếc xế điếc còn tươm tươm. Đến Prenn đã chiều muộn, cổng ngõ bỏ không, hai anh em được vào chơi miễn phí. Đi một vòng thác, anh rủ tiếp: Hay mình lên Đà Lạt luôn hè, không còn xa nữa mô! Đạp nổi lên đèo không anh? Lo chi, dắt bộ một chút lên đỉnh đèo, thả xe dong xuống!

Sau này, tôi biết chẳng có đỉnh đèo nào hết. Đà Lạt là đỉnh mà!

Hai anh em dắt xe đi bộ, trong đêm giá buốt, một gần đôi mươi - một mười lăm, trong bóng tối. Không thấy có một chiếc xe nào qua đèo vào thời khắc đó. Khoảng giữa đường, gặp một chiếc xe tải bị pan, tài xế đang đốt đống lửa bập bùng. Những người ngồi quanh đống lửa đó chắc tự hỏi hai ông nhóc nào lại vượt đèo trong đêm khuya khoắt thế này!

Đi mãi, đến khi thấy đèn thị xã ánh lên trong sương mù, tôi mới biết mình vượt qua một chặng đèo dài hơn mười cây số. Mồ hôi đẫm áo, làm bớt đi giá lạnh.

5.
Anh rời cuộc đời quá sớm. Cái chết là mất mát, tiếc nuối và đau thương. Nhưng nó cũng giữ lại mãi hình ảnh trẻ trung của Anh trong tâm tưởng mọi người.

Như một biểu tượng của tuổi-trẻ-tôi!

Như một kỷ niệm không bao giờ già nua, phai tàn, úa nhòa theo năm tháng!

6.
11 tháng 4 này là ngày giỗ Anh Lê Khắc Văn, không biết tôi có về Đà Nẵng được không? Hay lại vuột qua như hai lần 40 năm Bờm!


06/4/2011
»»  read more