26.4.11

Bờm và Anh


Thi Văn Đoàn Thằng Bờm do thi sĩ Nguyễn Vỹ thành lập (1970) tại Sài Gòn. Sau đó một số tỉnh thành cũng có các phân đoàn: Nha Trang, Đà Nẵng, Đà Lạt, Huế... Anh Lê Khắc Văn là Phân đoàn trưởng Đà Nẵng.

Lúc này thật êm vắng, không một tiếng động ngoài vườn nửa khuya. Lũ ếch xanh xám cũng đi đã ngủ trong hồ nước nhỏ. Chắc chỉ có cây sứ già mơ màng thả nhẹ nhàng những bông rơi trong bóng tối, để mai thấy trắng cả góc vườn. Thơm lắm nào hương nguyệt quế, hương khuyên tai, hương ngọc lan, hương cau, hương nhài. Tôi ngồi trước PC, đọc email Bờm, đọc trang web Bờm và nhớ.

1.
Tôi vào Bờm Đà Nẵng muộn, qua Lê Văn Quang (học cùng tôi hai năm lớp sáu, bảy trường Phan Chu Trinh) và sau đó Dương Đăng Cả (học cùng ở Trường Kỹ Thuật) giới thiệu. Chúng tôi cùng nhóm Đinh Bộ Lĩnh với Nguyễn Hữu Cử, sau này có thêm Nguyễn Sanh Ngọc, Đinh Thanh và… nhiều anh em nữa. Lúc này Bờm không chỉ thơ văn, đã chuyển qua hoạt động như hướng đạo với đồng phục, khăn quàng.

Tôi nhớ cái áo Bờm màu hoàng yến, vốn là áo trắng học sinh được nhuộm từ giấy bóng kiếng màu vàng (loại dán lồng đèn Trung Thu) nấu trong nước sôi,

Sau này, năm anh em, Dũng Quang Cả Ngọc Cử, rủ nhau lập một nhóm nhỏ nữa, gọi là nhóm Lam và đặt các bút hiệu: Mai Lam, Thụy Lam, Dạ Lam, Vi Lam, Đan Lam. Tôi là chàng láu táu, lắm tài vặt nên bị bốn chàng còn lại đẩy vào tư thế… lãnh đạo. Mấy anh em cùng nhau viết văn làm thơ. Tài hoa nhất là Ngọc-Vi Lam, có thơ đăng báo đàng hoàng.

Trong ba năm cùng Bờm với nhau (thời gian ngắn ngủi mà sao tình gắn bó thật dài), cả nhóm có một tập thơ chung. Thật tiếc qua nhiều biến động, không ai còn lưu giữ được cái kỷ niệm hiếm có ấy. Nhưng những ngày hăng hái lăng xăng để ra được tập thơ thì không thể ai quên!

Đó là tập thơ mỏng được đánh máy làm năm bản trên giấy pelure hồng, mỗi chàng năm bảy bài, và tất nhiên có các bức vẽ minh họa và trình bày bìa do Dũng-Mai Lam thực hiện. Bìa trang trọng lắm, được quay ronéo nét trên giấy croquis, sau đó tô màu nước, bọc nilon. Phải nói là tập thơ đầy vẻ đẹp lãng mạn của tuổi học trò.

Chúng tôi cũng hãnh diện ngầm, cái hãnh diện trẻ con, rằng mình cũng có tác phẩm được… in ấn xuất bản đàng hoàng chớ bộ. Cũng có cái để ngước nhìn được lên các đàn anh: Trần Hoàn làm thơ “thần sầu”, Dương Đăng Cao văn thơ họa “bay bướm”…, cùng các đàn chị tài hoa: Như Hòa, Kim Hương, Tố Trinh… và nhiều “cây đa cây đề” khác nữa.

2.
Câu trích cũ mòn, sáo và sến nữa, nhưng sao vẫn đúng: một thời để yêu và một thời để chết.
3.
Để nhớ một người, Anh, Lê Khắc Văn.

Trong bài viết nhân 40 năm Bờm, tôi gọi anh là người anh hùng trong tâm tưởng thời niên thiếu của tôi. Và đến bây giờ, trong tâm tưởng của một người quá tuổi 50, vẫn chỉ có một anh hùng duy nhất ấy!

Anh hùng vì thuở đó tuổi anh còn nhỏ hơn con tôi bây giờ, nhưng thừa bản lĩnh, niềm tin và sức mạnh tinh thần để dẫn dắt những-thiếu-niên-chúng-ta vui chơi, phiêu lưu, thương yêu nhau trong mấy năm trời. Tình yêu ấy, còn cháy sáng trong tim, đến tận những ngày này chưa tắt.

Anh hùng vì qua Anh, với Anh từng người chúng ta đều cố rèn nên một bản lĩnh. Những chiều chủ nhật sinh hoạt, những đợt trại ngắn ngày, những chuyến trại bay dài ngày trong tuổi nhỏ ngày ấy, chúng ta tràn đầy sinh lực và ý chí tự chủ, không hề thấy mình yếu đuối, bé bỏng phải dựa dẫm, nhờ vả vào ai.

4.
Tôi có hai kỷ niệm nhỏ với riêng Anh.

Anh là người giúp tôi hiểu trọn vẹn những kiến thức về âm nhạc của mình. Anh không trực tiếp dạy tôi về âm nhạc, nhưng qua lớp guitar của Anh ở nhà Trần Hoàn (hồi đó, tôi đã chơi được vài loại đàn rồi), nói như kiểu nhà Phật: tôi được-khai-thị về nhạc. Các bạn có thể cho tôi nói quá, nhưng sự thật là vậy.

Trước đó, tôi đã được học nhiều về nhạc lý, nhưng vẫn mù mờ một cái gì đó, lướng vướng một cái gì đó khiến mớ kiến thức của mình cứ u u minh minh. Một buổi chiều, tham gia lớp guitar, nghe anh Văn nói về nhịp điệu, tự nhiên trong đầu tôi như có cái gì vỡ ra, sáng ra và toàn bộ những cái tôi biết về âm nhạc tự nhiên mạch lạc, rõ ràng, khúc chiết.

Chắc một thiền sư ở giây phút ngộ giác, cũng vui sướng hoan lạc như tôi vào lúc đó!

Đó là duyên, là cái để ghi nhớ mãi!

Chuyện thứ hai, trong chuyến trại Đà Lạt. Chiều hôm đó, sau khi cả đoàn đã lên Đà Lạt, chỉ còn Anh và tôi ở Phi Nôm, giữ đám xe đạp sứt mẻ sau chuyến đi dài.

Phi Nôm thuở đó là ngã ba đường thiên lý, nhỏ bé, đìu hiu, đất đỏ mịt mù. Những mái nhà tôn rỉ sét nép trong các tàng cây. Đang hè, nhưng trời xám mây, lất phất sương mưa.

Ăn tối xong, đang gặm ổi, Anh rủ tôi lên Prenn chơi hè! Thì đi, chọn hai chiếc xế điếc còn tươm tươm. Đến Prenn đã chiều muộn, cổng ngõ bỏ không, hai anh em được vào chơi miễn phí. Đi một vòng thác, anh rủ tiếp: Hay mình lên Đà Lạt luôn hè, không còn xa nữa mô! Đạp nổi lên đèo không anh? Lo chi, dắt bộ một chút lên đỉnh đèo, thả xe dong xuống!

Sau này, tôi biết chẳng có đỉnh đèo nào hết. Đà Lạt là đỉnh mà!

Hai anh em dắt xe đi bộ, trong đêm giá buốt, một gần đôi mươi - một mười lăm, trong bóng tối. Không thấy có một chiếc xe nào qua đèo vào thời khắc đó. Khoảng giữa đường, gặp một chiếc xe tải bị pan, tài xế đang đốt đống lửa bập bùng. Những người ngồi quanh đống lửa đó chắc tự hỏi hai ông nhóc nào lại vượt đèo trong đêm khuya khoắt thế này!

Đi mãi, đến khi thấy đèn thị xã ánh lên trong sương mù, tôi mới biết mình vượt qua một chặng đèo dài hơn mười cây số. Mồ hôi đẫm áo, làm bớt đi giá lạnh.

5.
Anh rời cuộc đời quá sớm. Cái chết là mất mát, tiếc nuối và đau thương. Nhưng nó cũng giữ lại mãi hình ảnh trẻ trung của Anh trong tâm tưởng mọi người.

Như một biểu tượng của tuổi-trẻ-tôi!

Như một kỷ niệm không bao giờ già nua, phai tàn, úa nhòa theo năm tháng!

6.
11 tháng 4 này là ngày giỗ Anh Lê Khắc Văn, không biết tôi có về Đà Nẵng được không? Hay lại vuột qua như hai lần 40 năm Bờm!


06/4/2011
»»  read more

1.4.11

ký ức trịnh



 
Mười năm sau ngày mất, Trịnh Công Sơn được nhắc đến ở mọi nơi. Hiếm có một nghệ sĩ nào được công chúng yêu mến, hâm mộ và tưởng nhớ đến như vậy. Có lẽ, anh đã trở thành một ký ức-hoài niệm-kỷ niệm không quên, một người thân ruột rà, một người tình mãi yêu, một người bạn thủy chung, một phần đời của mọi người.

1. TCS luôn làm tôi nhớ đến ba tôi. Khi sắm được dàn Akai, ông - một người lao động nghèo làm nghề hớt tóc, đã mở cuốn băng đầu tiên: Ca khúc da vàng. Giọng hát Khánh Ly, tiếng kèn trumpet, tiếng mandolin, tiếng guitar trong các hòa âm đơn giản ùa ra tràn đầy không gian nhà tôi, khắc sâu vào lòng tôi tình yêu cái đẹp giản dị và tối thiểu (minimalism).

2. Âm nhạc của TCS cho tôi cái gan cùng mình, khi võ vẽ viết những bản nhạc đầu đời vào năm 12 tuổi. Mười mấy ca khúc non nớt và ngây thơ ấy, được kẻ nhạc, đóng tập cẩn thận, rồi thất lạc trong những biến-loạn-tháng-tư.

3. Với tôi, ở Việt Nam, có ba người thật lạ lùng: Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn. Thuở nhỏ tôi cực kỳ say mê từng dòng văn, dòng thơ, lời nhạc của họ, nhưng lại hầu như không hiểu họ viết gì. Không hiểu mà vẫn cứ mê, như là ma ám!

4. Tiết tấu trong từng ca khúc TCS thường chỉ một, không biến đổi nhiều, có thể cho là đơn điệu. Nhưng cái điệu thức đơn giản ấy lại cuốn hút người nghe đầy ma lực. Tại sao? Có lẽ nó đã đạt được cái ảo diệu của một lời ru, một điệu lục bát, một nhánh ikebana?

5. Ai hát hay nhất nhạc của TCS? Để cho công chúng: Khánh Ly. Để cho những cuộc nhậu: bạn tôi. Để cho khi một mình: tôi.

6. Và sau hết, âm nhạc TCS làm tôi nhớ mãi đến không khí đô thị miền Nam thời chiến tranh. Tôi không còn nhớ đến tiếng gầm của máy bay phản lực trên bầu trời Đà Nẵng, không còn nhớ tiếng đạn pháo kích rít từng đêm lật đật chạy xuống hầm trú ẩn (xây bằng những bao cát trong một góc nhà). Còn lại trong tâm trí tôi là đám bụi mù trên con lộ đá với những bót gác, những mái nhà tôn rỉ sét dưới cái nắng chói chang của buổi trưa vùng cát bỏng cháy, những chuyến xe lam lầm lũi với hành khách đa phần là đàn bà, người già, con nít mang trên khuôn mặt cam chịu những ánh mắt ngơ ngác trước cuộc chiến khốc liệt như một định mệnh trót an bài.
»»  read more

27.2.11

con nít?


1.
Bi đi học xa, bỏ lại nhà nhiều thứ của thời trẻ nhỏ. Những tập truyện tranh Nhật bổn, trọn bộ Harry Potter từ những tập mỏng ngày đầu đến từng cuốn to đùng dày cộp các kỳ sau, những cuốn Lucky Luke, Spirou, Xì trum. Và còn lại vài ba con rô bốt, sau không biết bao nhiêu con sứt đầu mẻ trán, quẳng đầy cả sọt nhựa, lưu lạc không biết chốn nào.

Nhớ những chiều Chủ Nhật, cả nhà đi lễ đi chơi, ăn uống cuối tuần. Xà quần một hồi rồi cũng ghé lại mấy cửa hàng đồ chơi, cho Bi tìm mua một món.

Nhớ những ngày đón Bi học về, ngang qua hiệu sách háo hức xem thử tuần này Harry Potter đã ra chưa?

Hai ba con đều mê truyện tranh, phim hoạt hình, Harry Potter… như nhau.

2.
Con rô bốt bự nhất của Bi hiện nay vẫn đang ở nhà. Năm ngoái Bi mới tự mình mua con rô bốt này, mang về lắp ráp, nhìn ngắm, chụp hình đã đời, rồi xếp lên kệ, trong khi tôi tưởng Bi sẽ mang nó vào SG, với ý nghĩ: ông nhỏ lớn ù rồi mà còn mê đồ chơi con nít.

Té ra là một câu chuyện cũ mà tôi đã quên!

Đấy là con rô bốt mẹ mua cho Bi, tôi bắt mang trả lại cửa hàng, vì quá đắt và xa xỉ so với giá cả và tuổi Bi hồi đó.

Hình như, có mua thay thế con này bằng một con khác nhỏ hơn. Bi cũng ngoan, nghe lời, không đòi hỏi gì. Thành ra chuyện trôi đi, không có gì ầm ĩ, đáng nhớ. Không ai để tâm xem Bi có ấm ức, ray rức hay không?

Ai dè cái mong ước có con rô bốt bự đó vẫn còn nguyên trong lòng cậu nhỏ. Khổ một nỗi, vài năm sau, khi Bi lớn thêm, có thể mua được, thì con rô bốt không thấy xuất hiện ở cửa hàng nữa!

Nỗi mong ước cứ nung nấu ngót mươi năm! Có bao nhiêu Chủ Nhật Bi mò mẫm trong các cửa hàng tìm món đồ chơi đó? Kiếm tìm như tìm kiếm cố nhân.

Cho đến năm ngoái, thằng bé ngày trước giờ đã là cậu sinh viên năm thứ hai, mới thỏa ước mong xưa. Và còn kể lại với một chút chì chiết giả đò cố ý: hồi đó, tại cô Y. mang trả con rô bốt của con đó!

3.
Thỉnh thoảng vào phòng Bi, thấy con rô bốt đứng trên đầu kệ, nhớ chuyện cũ, tự hỏi không biết việc mình bắt trả lại món đồ chơi con mong ước là đúng hay sai!

Và thấy nao lòng, bàn tay bất giác muốn sờ vào con rô bốt.
»»  read more

14.1.11

Chuyện của ba (2)



Đời phong lưu

1.
Từ lúc còn trẻ, ba luôn để ý đến chuyện ăn mặc. Còn đó tấm hình ngày xưa với cái mũ phớt đen, bộ đồ âu trắng và đôi giày da đơ-cu-lơ.

Không biết lúc ba đi hớt tóc dạo ăn mặc ra sao, nhưng dứt khoát là không lôi thôi bao giờ. Gì chứ quần áo của ba lúc nào cũng phẳng phiu, láng lẩy.

Khi mần ăn khấm khá, ba mặc áo thun montague, áo khoác pilot. Mốt thời thượng hồi đó. Mẹ tôi phát mệt vì ủi đồ cho ba, còn chúng tôi thì khổ vì phải đánh xira những đôi giày của ông. Kỹ cỡ nào cũng bị ba săm soi, bắt làm lại.

Sau bảy-lăm, dù khốn khó, ba vẫn giữ lề trong chuyện ăn mặc. Quần áo cũ sờn, nhưng luôn tươm tất. Không còn mang giày (cất vô trong tủ), ba mang dép sa-bô da, không bao giờ ra đường lại mang dép lê, dép nhựa.

Tôi thích nhất mùi thơm đặc biệt trong đám quần áo của ba. Không phải mùi xà bông, nước hoa, mà mùi của người, của da thịt, khiến tôi cứ hít hà mãi không thôi!

(Bà xã cũng khen quần áo tôi có mùi thơm như của ông nội. Đứa con trai tôi cũng có mùi y vậy. Gen trội này tốt nhen!)

Sau này, về già, ba tập thể dục dưỡng sinh. Thế là áo thun quần sọt trắng bóc. Đúng kiểu phong lưu, mùa nào, thời nào, thức ấy!



* Đại gia đình 198x

2.
Ba cũng là người có hoa tay, vẽ vời, trang trí nhà cửa và ham chơi nữa.

Tôi còn nhớ ba bỏ gần cả chục ngày trời vẽ một bức tranh sơn dầu trên tấm carton. Bức họa vẽ con chim chích nuôi con chim tu hú. Con chim mẹ nhỏ bé phải tìm mồi về nuôi đứa con khác giống khổng lồ. Nội dung bức vẽ làm tôi không yên ổn, nó ám ảnh tôi bởi sự bất công và bất nhẫn.

Khi nhà được xây xong, ba mua các thanh gỗ thông (từ các palet thùng hàng), cưa nhọn đầu làm một hàng rào gỗ xinh xắn, sơn trắng và trồng một luống hoa đủ màu. Cái hàng rào đẹp như trong các bức vẽ nước ngoài khiến tôi thích mê.

Ba sắm sửa trong nhà không thiếu món gì. Nhà tôi trở nên khá khá. Ba là người mua chiếc Honda dame đầu tiên, sắm cái tivi Panasonic bốn chân có cửa đóng mở thứ nhì (sau bác Năm Huế) trong xóm.

(Xóm tôi có hai nhà giàu: bác Năm Lương chủ lò bún và bác Năm Huế làm công chức. Sở dĩ ba tôi là người có xe honda đầu tiên, vì bác Năm Huế trước đó đã đi xe môbilet, còn bác Năm Lương thì làm ăn căn cơ, không phóng tay như ba tôi).

Ba cũng sắm nhiều món đồ chơi (và ông chơi là chính, bọn tôi khó mà được chạm vào): một chiếc xe cảnh sát Mỹ chạy hú còi inh ỏi, đụng chướng ngại vật, nó tự động lùi và quay sang hướng khác; một mô hình lắp ráp chiếc tàu chiến ba cột buồm với đầy đủ mọi thứ: bánh lái mỏ neo, thuyền trưởng và thủy thủ, súng ống đại bác linh đình…

Từ dàn máy hát Akai của ba, tôi được đắm chìm trong âm nhạc của Văn Cao, Phạm Đình Chương, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn và sau này Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An… Một người học hành không nhiều như ba, xuất thân từ nông thôn, có cái gu âm nhạc như vậy, thật là đặc biệt. Và đặc biệt, ba mê nhạc Trịnh. Gần như những băng nhạc của Trịnh thời đó đều có trên kệ của ba.

Tôi không thể quên những băng Ca Khúc Da Vàng, Tình Khúc của Trịnh với những hòa âm giản dị, khúc chiết: tiếng guitar bập bùng, tiếng mandolin dòn tan, tiếng kèn trumpet thôi thúc, tiếng saxophone da diết với tiếng hát ma túy Khánh Ly đặc tả cái không khí đô thị thời chiến trộn lẫn niềm hy vọng nát tan của tuổi trẻ.

Ba còn sắm một cái máy ảnh, món xa xỉ thời đó, và chụp hình cả xóm. Lũ trẻ nít quấn lấy ba, xin chụp hình. Ông lang thang đi tìm cảnh đẹp, sang cả Tân An, chùa Ngọc Giáng…

Và những ngày Tết đến, tôi thấy ba lích kích chuẩn bị từ đầu tháng Chạp. Rượu, thuốc lá, đồ nhắm. Rượu tôi không rành vì quá nhỏ, chứ thuốc lá thì còn nhớ nào là Pallmall, Salem, Lạc đà, Lucky… Chắc là bạn của ba hút nhiều gu thuốc khác nhau. Thức nhắm truyền thống là một xoong thịt đông tự tay ba nấu lấy.

Tất nhiên, những thức trên có ở những ngày khấm khá. Chứ lúc gian khổ thì phải giản lược đi nhiều.

Chỉ có một thứ không thể thiếu trong những ngày xuân, dù sang hay hèn. Thiếu món này, với ba, Tết là vô nghĩa.

Đó là cành mai vàng. Sắc hoa chưa bao giờ thiếu trong ngày Tết nhà tôi. Thường cuối năm, nghề hớt tóc rất bận rộn, nhưng ba cũng luôn dành thì giờ để dạo chợ hoa, tìm cho ra cành mai ưng ý. Những năm túng ngặt thì nhánh mai nhỏ thôi, những lúc khấm khá thì được gốc mai lớn, cành nhánh sum suê.

Những cánh hoa mai nở đều, nhiều và đẹp trong những ngày đầu năm mang đến cho ba niềm hy vọng về một tương lai sáng sủa hơn.

Ba mê nuôi chim, từ sáo, nhồng, chào mào dần dà chuyển qua chuyên nuôi chim yến: giống chim thuộc họ két, con lông vàng là hoàng yến, con lông trắng là bạch yến. Ba là một trong những người nuôi được chim yến đẻ trứng tại Đà Nẵng. Giống chim này khó đẻ trong điều kiện nuôi nhốt, khiến nhiều người phải đến học nghề.

Những năm cuối đời, ba chuyển sang chơi khắc tượng trên rễ cây. Cái to cái nhỏ, hình này dáng kia. Có người thích, ba vui vẻ biếu tặng. Ba mang vào Nha Trang cho tôi bức tượng đại bàng đấu với mãng xà (xem hình).

Những tác phẩm gỗ của ba còn để đầy một tủ tại Đà Nẵng, chúng luôn nhắc tôi nhớ hình ảnh ba ngồi cặm cụi đục khắc, tư thế khó khăn vì cái chân thương tật phải duỗi thẳng, nhưng đầy đam mê của một nghệ sĩ đang say sưa sáng tạo.

Niềm đam mê ấy truyền lại trong những đứa con của ba, đứa biết hát, đứa biết đàn, đứa biết vẽ vời, đứa biết viết văn làm thơ, mỗi khi hội ngộ là tưng bừng vui vẻ cả đêm!

3.
Ba cũng là tay uống rượu có hạng. Tôi viết vậy, vì gần như ba uống rượu uống bia cả đời, và tôi chưa thấy lần nào ba “quấy quá” vì say.

Thỉnh thoảng, mấy anh em tôi được ba chở ra Nam Ô, ăn nhậu cùng mấy ông bạn của ba ở mấy quán hải sản. Bãi Nam Ô rất kỳ thú vì có núi, có rừng ven bãi biển sóng vỗ ầm ào. Các hàng quán dựng bằng tranh tre nứa lá, sát mép nước, đầy những món cua ghẹ tôm mực thơm ngon, mùi thơm ngào ngạt trong gió lộng.
Những giây phút đó thật là sung sướng.

Nghe kể lại, cũng có lúc ba uống rượu say, bỏ cả xe máy lại quán, đi xích lô về.

Còn Mỹ, uống rượu tây; hết Mỹ, uống rượu… sắn! Bao cấp, có gì xài nấy; đổi mới, quay lại rượu tây!

Vào Nha Trang, đi chơi với đám bạn nhậu của tôi, đứa nào cũng tấm tắc: “Ông già uống cứng quá trời!” Không qua tua ly nào. Trẻ tới đâu, già tới đó. Vừa uống vừa nói chuyện tiếu lâm, càng uống càng tỉnh táo!

Đến khi tuyên bố bỏ rượu, chưa đầy một năm sau, ba mất!

4.
Đám tang ba thật đông anh em bè bạn phúng viếng. Ba từ giã cõi đời này trong niềm thanh thản của một con người đã biết sống đầy đặn khi đang sống, biết phong lưu phóng dật trong mọi lúc mọi thời.

Cơn gió mang đến cuộc đời một mùi hương, rồi khi cơn gió đi mất, mùi hương vẫn còn đọng lại.
»»  read more

9.1.11

Chuyện của ba (1)


Đời cần lao

1.

Từ nhỏ, ba là ám ảnh đặc biệt với tất cả anh chị em tôi. Vì ba rất nóng tính, lại dữ đòn. Những cái roi mây, thước gỗ, dây nịt… luôn là niềm kinh hãi khi chúng tôi phạm lỗi.

Chúng tôi lớn lên trong khuôn phép đó. Ba thì nghiêm khắc trừng phạt, mẹ thì bảo bọc bao dung. Mỗi lần bị ba cho ăn đòn xong, mẹ là người xoa dịu những chỗ lằn roi, ôi cái nước muối xót không thể tả. Chúng tôi cũng biết không chỉ mẹ xót lòng, mà ba chắc cũng chẳng vui vẻ gì hơn. Có ai vui khi trừng phạt con bao giờ.

Nhờ vậy chúng tôi lớn lên đàng hoàng hơn trong môi trường khá là phức tạp, xung quanh xóm đầy rẫy cao bồi du đãng, đĩ điếm xì ke.

Đến bây giờ, đã quá năm mươi, con cái đã lớn, tôi vẫn chưa quen được với cái phương pháp dạy con không cần đến roi vọt. Một chút roi vọt đúng mức vẫn tốt cho việc giáo dục con cái.

Ngay chúng tôi đây, bị đòn roi dữ như vậy, nhưng từ nhỏ đến lớn vẫn một niềm kính yêu, đâu có ai oán hận, mặc cảm gì với ba mình!

Và chúng tôi càng lớn lên, ba càng già đi, sự kính yêu càng sâu lắng hơn. Vì có con rồi mới biết lòng cha mẹ.

2.

Ba mẹ cưới nhau trước 1945 không lâu. Sau cách mạng nổ ra, Pháp đánh lại Đà Nẵng, ba cũng nằm trong tốp ở lại chận đường quân địch, rồi bị bắt. Mẹ tản cư theo ông bà nội ngoại chạy tuốt lên vùng núi Trung Phước Đại Bường.

Ra tù, ba bị kẹt lại Đà Nẵng. Mãi khi hòa bình lập lại 1954, ba mẹ mới gặp nhau. Chuyện tình cách trở của hai người ly kỳ lắm, tôi sẽ kể trong một dịp khác.

Gặp lại, ba mẹ mới bắt đầu sinh anh em chúng tôi, cả thảy bảy đứa con, được nuôi dưỡng tròn trịa, không mất đứa nào. Ngày đó “hữu sinh vô dưỡng” là chuyện thường.

Không nghề nghiệp, ba bắt đầu mưu sinh bằng nghề hớt tóc dạo. Khi chưa rành nghề phải cuốc bộ về những vùng quê xa, ban đầu hớt cho con nít, lỡ hư thì cạo trọc luôn, không ai phàn nàn. Dần dà tay nghề cứng mới dám hớt cho người lớn. Dân quê chắc cũng không “model” kiểu cọ gì, cứ ca rê hoặc ba phân là xong thôi!

Dần dà, sắm cái xe đạp trành, cho đỡ mỏi chân.

Dần dà mua được miếng đất, dời gia đình đang ở nhờ bên đất cô Bốn (Thạc Gián), về nơi mới (Chính Trạch), lập nhà cho gia đình ở đến bây giờ.

“Đà Nẵng thời đó, ra khỏi lõm phố xá Chợ Mới, Chợ Cồn, bờ sông Bạch Đằng, là ngoại ô đầy trúc tre, lau lách, bàu nước sen súng bèo tây bèo tấm xanh ngút ngát. Mang danh phố thị nhưng có khác gì chốn nhà quê, mái lá mái tôn giữa những khu vườn rộng, rào dậu quấy quá liêu xiêu, ngõ cát bỏng chân mùa hè, lụt lội mùa đông, ra đến lộ gập ghềnh đá cuội, rợp bóng xà cừ phượng vĩ, thi thoảng một chiếc xe đò ngang qua, bụi mịt mù trong khói xăng thơm thơm… (Bán dạo.PHD)”

Vài năm sau, ba thôi hớt dạo, thuê nhà mở tiệm ở đường Ông Ích Khiêm, cạnh đường rầy xe lửa. Gia đình sống tùng tiệm như mọi người dân nghèo đô thị.

Đến khi Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng, biến thị xã nhỏ bé thành một đô thị thời chiến với các trại lính mọc lên như nấm, ba nghỉ tiệm, làm thuê cho nhà thầu Lý Lệ Hoa, vô hớt tóc cho lính Mỹ trong phi trường.

Nhu cầu cần phục vụ của đội quân viễn chinh Huê Kỳ làm xáo trộn cuộc sống dân chúng những nơi họ đóng quân. Ai cũng đua nhau đi làm sở Mỹ. Và có tiền, nhà thầu thì giàu lên, người làm thuê cũng kiếm chác được, đời sống dễ thở hơn, dù bóng đen ghê sợ của cuộc chiến bắt đầu ám ảnh, ngày một tối ám.

Lúc này, ba xây được nhà, mua sắm xe máy, tivi, dàn Akai, tủ lạnh. Bữa ăn thường ngày đầy đặn hơn, có thịt có cá. Chiều chiều, người ta mang từ đâu đó về bán trong cái xóm nhỏ thức ăn của lính Mỹ: đồ hộp, thịt muối, xúc xích pa tê, tôm lăn bột đông lạnh, táo lê nho, bơ sữa… Ngó bộ lính Mỹ xài cái gì, dân ta xài cái đó!

Rồi hiệp định Pari, rồi lính Mỹ phải rút về nước. Trong thời điểm chộn rộn này, mất việc trong phi trường, về chạy xe thồ kiếm sống, ba tôi bị xe Jeep lính Mỹ say tông gãy chân. Tai nạn khá nặng, khiến ba thương tật vĩnh viễn, chân trái không co duỗi được. Bắt đầu chuỗi ngày khốn khó cho ba, và tất nhiên cho cả gia đình tôi.

Khi tập tễnh đi lại được, ông lại ra trước đường Thống Nhất (nhà tôi trong kiệt cách đường khoảng trăm mét), thuê nhà mở tiệm hớt tóc tiếp để nuôi vợ con. Chị cả tôi đã lập gia đình, còn lại sáu anh em sắp hàng một… đi học. Ba đặt tên tiệm là Thiên Hương, sau này nhiều người quen miệng gọi ba là ông Thiên Hương.

Cái tiệm nhỏ bé đó nuôi cả nhà qua cả những năm trước và sau bảy lăm, nhưng cực kỳ khó khăn. Chỉ có tôi vượt lên vào Đại học, còn mấy anh em đành bỏ dở học hành, trai đi bộ đội rồi về làm công nhân viên, gái xoay sở buôn bán vặt qua ngày. Như mọi gia đình nghèo thành thị sau giải phóng, thời của sổ gạo, tem phiếu, khoai sắn độn, mì sợi, bobo...

3.

Một đời như những người cha cần lao khác, với một nghề nhỏ mọn: hớt tóc, đạp xích lô, chạy ba gác… ba đã gồng gánh một gia đình lớn.

Nhưng ba không quá lam lũ, đầu tắt mặt tối. Với tính tình và bẩm sinh nghệ sĩ, tài hoa ông vẫn phong lưu từng ngày, “biết sống khi không dư dật cái để sống(1)”.

_________________

(1) Sống phong lưu - Hoàng Đạo Kính

»»  read more